Thiên Long Bát Bộ

Giáo đơn vu chiết tiễn - Lục quân tích dịch - Phấn anh hùng nộ

Về đến vương phủ, Gia Luật Hồng Cơ không cho Tiêu Phong gặp mà chỉ hạ lệnh cho Ngự Doanh Đô Chỉ Huy Sứ đem ông giam lại. Ngờ đâu Đô Chỉ Huy Sứ lại tưởng Tiêu Phong trời sinh thần lực, những nhà ngục tầm thường nhốt sao nổi ông ta, bèn sai người đi lấy những loại khóa sắt, xích sắt to lớn nhất, cùm chân tay, mồm không ngừng xin lỗi Tiêu Phong rồi nhốt vào một cái cũi lớn. Cái cũi đó ngày xưa A Tử dùng để nhốt sư tử, chấn song cái nào cái nấy vừa to vừa chắc.

Bên ngoài cũi lại sai một trăm thân binh, tay cầm giáo dài vây quanh mấy tầng, nếu Tiêu Phong ở trong cũi có gì khác lạ thì bọn thân binh sẽ lập tức dùng mâu đâm ngay, dù ông có khỏe đến mấy cũng không thể trong nháy mắt đã tháo được xích sắt, khóa sắt, phá được cũi chui ra. Bên ngoài vương phủ lại có thêm một tầng thân binh canh gác nghiêm nhặt. Những tướng sĩ trước đây ở Nam Kinh đều bị Gia Luật Hồng Cơ điều đi nơi khác để phòng bọn họ còn trung thành với Tiêu Phong mà nổi loạn cứu ông ta ra.

Tiêu Phong níu chặt lấy lan can bên trong chiếc cũi, nghiến răng cố chịu đựng cơn đau, không còn hơi đâu mà suy nghĩ chuyện gì khác. Mãi tận chiều hôm sau, sau mấy lần tiểu tiện, độc tính của thuốc độc mới dần dần tiêu giải, cơn đau giảm đi. Tiêu Phong lực khí hơi khôi phục lại rồi nhưng vào tình cảnh này thì làm cách nào mà thoát nổi? Ông nghĩ thầm có buồn rầu cũng chẳng đến đâu, vả lại trong đời nguy nan kinh lịch cũng nhiều, không lẽ Tiêu Phong này một đời hào kiệt lại đành chịu chết trong cái chuồng sắt này hay sao? Cũng may các thân binh kính trọng ông là người anh hùng, canh gác tuy dám không lơ là nhưng vẫn đem đồ ăn thức uống đến cho ông, đối xử không kém phần lễ mạo. Tiêu Phong cứ việc uống tì tì, mấy ngày sau chung quanh đầy những bình không.

Gia Luật Hồng Cơ trước sau không hề đến thăm nhưng lại sai mấy người khéo mồm khéo miệng đến khuyên giải, nào là hoàng thượng khoan hồng đại lượng, còn nghĩ đến tình cũ nghĩa xưa nên không nỡ gia hình, mong Tiêu đại vương hối hận xin tha. Tiêu Phong coi bọn thuyết khách này không bằng nửa con mắt, chỉ tự rót rượu uống một mình.

Cứ như thế đến hơn một tháng, bốn tên thuyết khách đó vẫn chưa chịu chán, ngày ngày cũng chỉ có bấy nhiêu, nói qua nói lại lèm bèm mãi, nào là “Hoàng thượng đãi Tiêu đại vương ân đức như núi, chỉ có đường nghe theo lời của hoàng thượng mới mong sống sót mà thôi”, nào là “Hoàng thượng thần võ có thể trông thấu suốt chuyện ngoài vạn dặm, cho đến một trăm đời sau, thánh thiên tử đã đoán thì không thể nào sai trật, đại vương nên theo con đường hoàng thượng đã vạch ra là hơn”… Bọn thuyết khách đó rõ ràng biết rằng không thể nào khuyến dụ được Tiêu Phong, vậy mà vẫn cứ lải nhải mãi không ngừng.

Đến một ngày kia Tiêu Phong đột nhiên nổi bụng nghi ngờ: “Hoàng thượng đâu phải người hồ đồ, sao lại cứ phải cho người đến ỉ ôi khuyên dụ ta? Bên trong hẳn có điều gì khúc mắc”. Ông suy nghĩ một chút, đột nhiên nghĩ ra: “Đúng rồi, hoàng thượng đã điều binh khiển tướng, chuẩn bị đại quân nam chinh nên giả vờ sai mấy tên dấm dớ này đến đây cầm chân ta. Chỉ muốn kéo dài thời gian, khiến ta thấy phản kháng vô ích, cuối cùng sẽ khuất phục, tiếp chỉ nam chinh”.

Tiêu Phong lại suy nghĩ thêm một chút, đã hiểu ngay: “Hoàng thượng tự cho mình là anh hùng, muốn ta phải tâm phục khẩu phục nên ngự giá thân chinh bình nam, sau khi thu giang sơn nhà Đại Tống sẽ đòi mình lên huênh hoang một phen. Y sợ ta nổi máu cương cường, tuyệt thực tự tận nên mới sai bọn tiểu nhân này đến đây nói trời nói đất”.

Ông vốn đã chẳng còn coi an nguy sinh tử vào đâu nên dẫu không thoát thân được, cũng chẳng thèm tức tối. Tuy không muốn đốc quân nam chinh nhưng Tiêu Phong đâu phải là hạng lo cái lo trước thiên hạ, nghĩ đến Gia Luật Hồng Cơ đã quyết ý phát binh, không thể nào vãn hồi đại kiếp được nữa, chỉ đành thở dài một tiếng, uống liền tù tì mươi bát rượu cho sướng miệng rồi gác sang một bên không nghĩ đến nữa.

Lại hơn môt tháng nữa, chỉ thấy bốn gã thuyết khách kia cứ leo lẻo nói mãi, Tiêu Phong bất chợt hỏi:

– Đại quân của Khất Đan chúng ta đã qua sông Hoàng Hà chưa vậy?

Bốn tên thuyết khách hết sức ngạc nhiên, chưng hửng nhìn nhau một hồi, một tên đáp:

– Tiêu đại vương nói thật đúng quá, đại quân của ta đợi ngày sẽ tiến, tuy chưa qua sông Hoàng Hà nhưng chắc cũng chỉ nay mai.

Tiêu Phong gật đầu:

– Thế ra đại quân chưa xuất phát, không biết đến bao giờ mới là ngày Hoàng Đạo? Bốn tên thuyết khách đưa mắt nhìn nhau, một tên nói:

– Bọn chúng tôi chỉ là thứ tiểu lại hạ liêu, không nghe biết gì về quân tình. Một gã tiếp lời:

– Chỉ mong Tiêu đại vương hồi tâm chuyển ý, hoàng thượng sẽ đích thân đến gặp đại vương để bàn chuyện quân quốc đại sự.

Tiêu Phong hừ một tiếng, không hỏi thêm nữa, nghĩ thầm: “Nếu hoàng thượng tiến quân thế như chẻ tre, chiếm được Đại Tống rồi sẽ giải ta đến Biện Lương đẩ gặp. Còn như thua trận trở về thì còn mặt mũi nào mà gặp ta, người đầu tiên phải xử tử ấy chính là mình. Nếu thế thì mình mong y lấy được Đại Tống, hay mong y bại trận? A ha! Tiêu Phong hỡi Tiêu Phong, chính ngươi cũng chẳng phải biết nói sao bây giờ!”.

Hôm sau vào lúc chiều tối, bốn tên thuyết khách lại lọt tọt đi vào. Những thân binh canh gác Tiêu Phong vốn đã nghe mấy tên này nói lèm bèm phát chán ngấy, vừa trông thấy bọn chúng đã cau mặt, tránh ra mấy bước. Hơn hai tháng qua Tiêu Phong không hề có vẻ gì tỏ ra định đào thoát, nên việc giám thị không còn nghiêm nhặt như lúc đầu. Tên thuyết khách đi đầu tằng hắng một cái mở màn:

– Tiêu đại vương, hoàng thượng hạ chỉ, xin đại vương nghinh tiếp: Nếu đại vương cự tuyệt không phụng mệnh, ấy là tội đại ác cực.

Câu này Tiêu Phong nghe đến cả trăm lần rồi, nhưng lần này nghe giọng có vẻ bất thường như thể bị sưng cổ họng, không khỏi đưa mắt nhìn y, vừa thoạt trông đã thấy khác lạ. Chỉ thấy tên thuyết khách đó nhướng mày đảo mắt, vẻ mặt có chiều quái đản, Tiêu Phong nhìn thêm, thấy người đó tướng mạo không giống trước, nhìn kỹ hơn nữa không khỏi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, những sợi râu loe hoe của y đều là râu giả gắn vào, mặt mày bôi nham nhở, lem luốc thật khó coi nhưng bên dưới làn da vàng ệch là cái miệng anh đào, mũi thon xinh xinh, chính là A Tử.

Chỉ nghe nàng hạ giọng ậm à ậm ừ:

– Hoàng thượng đã nói ắt không thể nào sai, đại vương nếu bằng lòng tuân theo sẽ có chỗ hay. Đây là thánh dụ của Đại Liêu hoàng đế, đại vương đọc kỹ vài lần

Y nói xong lấy trong tay áo ra một tờ giấy đưa cho Tiêu Phong. Lúc đó trời đã nhá nhem, đèn đuốc trong sảnh đã được mấy tên thân binh thắp sáng. Tiêu Phong soi lên ánh đèn thấy trên giấy viết tám chữ: “Đại viện đến rồi, tối nay thoát hiểm”. Tiêu Phong hừ một tiếng ngao ngán lắc đầu. A Tử nói:

– Lần này bên ta phát binh, quân mã không phải là ít, sĩ cường mã tráng, thể nào cũng kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công, đại vương không phải lo gì cả. Tiêu Phong đáp:

– Bản ý ta chẳng muốn chết thêm sinh linh nên hoàng thượng mới giam ta lại. A Tử nói:

– Nếu muốn thắng trận phải nhờ vào thần cơ diệu toán chứ đâu phải chỉ giết người mà thôi.

Tiêu Phong lại đưa mắt nhìn vào ba tên thuyết khách còn lại thấy đứa thì cầm quạt phe phẩy, hoặc đưa tay áo rộng hở hở kín kín, không dám nhìn thẳng vào người khác, hẳn là những người A Tử gọi đến tiếp tay. Tiêu Phong thở dài một tiếng nói:

– Hảo ý của các ngươi, Tiêu mỗ cực kỳ cảm kích, có điều kẻ địch thủ ngự nghiêm mật, công thành chiếm đất, thật chẳng có hi vọng gì…

Vừa nói dứt lời, bỗng nghe những tên thân binh la hoảng:

– Rắn độc! Rắn độc! Sao rắn ở đâu nhiều thế này?

Chỉ thấy từ cửa cái, cửa sổ vô số rắn bò lổm ngổm, ngóc đầu lè lưỡi, ngoằn ngoèo tiến vào, trong sảnh lập tức rối loạn cả lên. Tiêu Phong chợt hiểu: “Xem trận thế của độc xà dường như do anh em Cái Bang đích thân chỉ huy”.

Các thân binh giơ trường mâu, yêu đao vừa đập vừa chém. Người cai quản đội thân binh quát lên:

– Những ai đang hầu hạ Tiêu đại vương không được di động một bước, vi lệnh sẽ bị chém đầu.

Gã quản đội đó cực kỳ bén nhạy, thấy bầy rắn có vẻ khác thường, chỉ sợ lúc đang lộn xộn, Tiêu Phong sẽ thừa cơ thoát thân. Những thân binh vây quanh cái cũi lập tức đứng yên, dùng trường mây chĩa thẳng vào lồng nhưng vẫn đưa mắt xem chừng những con rắn độc, có con nào bò đến gần liền dùng giáo đập ngay.

Còn đang hỗn loạn, bỗng nghe phía sau vương phủ có tiếng người la ó:

– Lấy nước ra, mau mau cứu hỏa, mau mau cứu hỏa. Tên quản đội lại quát:

– Khải Hổ Nhi, mau đi bẩm với Chỉ Huy Sứ đại nhân, có di chuyển Tiêu đại vương đi không?

Khải Hổ Nhi là một bách phu trưởng, đáp lời quay đi, đang định chạy ra bỗng nghe tiếng người từ sảnh môn hầm hè truyền vào:

– Chớ có trúng phải kế điệu hổ ly sơn của bọn gian tế, nếu có người cướp ngục thì đâm chết Tiêu Phong trước.

Người đó chính là Chỉ Huy Sứ Ngự Doanh Quân. Y tay cầm trường đao, uy phong lẫm lẫm đứng chặn ngay trước cửa. Đột nhiên có một bóng xanh thấp thoáng, ai đó cầm một con rắn xanh ném vào mặt y. Gã chỉ huy sứ liền giơ đao gạt ra, vèo vèo liên tiếp, có người bắn ám khí, bao nhiêu đèn đuốc trong đại sảnh tắt phụp, căn phòng tối đen như mực. Gã chỉ huy sứ kêu lên một tiếng, trúng phải ám khí, ngã bật ngửa.

A Tử lấy trong tay áo ra một thanh bảo đao thò vào trong cũi, lách cách mấy tiếng, chặt đứt những sợi dây xích sắt trói Tiêu Phong. Tiêu Phong nghĩ thầm:

“Những song sắt cái chuồng này vừa to vừa cứng, bảo đao đó chưa chắc đã chặt được”. Vừa lúc đó, sàn dưới chân bỗng sụp xuống, A Tử ở bên ngoài chiếc cũi sắt nói nhỏ:

– Theo địa đạo chạy ra.

Kế đó một người nào đó từ dưới hố thò tay nắm chân Tiêu Phong kéo một cái, cả thân hình ông liền rơi tụt vào, thì ra tay thợ lành nghề đào đất của Đại Lý là Hoa Hách Cấn đã đến. Y phải mất hơn mười ngày công phu mới đào được một địa đạo luồn tới cái chuồng đang nhốt Tiêu Phong.

Hoa Hách Cấn nắm được Tiêu Phong rồi liền theo đường hầm bò ngược trở ra, nhanh chẳng khác gì người ta đi trên mặt đất, trong khoảnh khắc đã được hơn trăm trượng, lúc đó mới đỡ Tiêu Phong đứng lên, từ trong hang chui ra. Chỉ thấy bên ngoài có ba người mặt mũi tươi tỉnh ùa đến, chính là Đoàn Dự, Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch. Đoàn Dự kêu lên:

Vừa nói vừa xông đến ôm chầm lấy Tiêu Phong. Tiêu Phong cười ha hả nói:

– Đã nghe đến thần kỹ của Hoa Tư Đồ từ lâu, hôm nay chính mình được thử, quả là bội phục.

Hoa Hách Cấn vui vẻ đáp:

– Được kim khẩu của Tiêu đại vương khen một lời, quả là vinh hoa đệ nhất trong đời tiểu nhân.

Nơi đây cách Nam Viện Đại Vương phủ không xa, bốn bề có tiếng Liêu binh huyên náo. Bỗng nghe có tiếng tù và, kỵ mã từ ngoài chạy tới lớn tiếng kêu la:

– Quân địch đánh vào cửa Đông, thân binh ngự doanh ở đâu thì ở đó, không được di chuyển.

Phạm Hoa nói:

– Tiêu đại vương, mình chạy ra cửa tây. Tiêu Phong gật đầu:

– Hay lắm, bọn A Tử đã thoát hiểm chưa?

Phạm Hoa chưa kịp trả lời, tiếng của A Tử từ dưới hang đã vọng lên:

– Tỉ phu, thì ra huynh vẫn còn nhớ đến muội.

Giọng nói đầy vẻ sung sướng. Nghe tiếng loạt soạt, từ dưới hang chui lên, mặt dán râu, đầu cổ đầy đất cát tro than, cực kỳ dơ dáy, thế nhưng dưới mắt Tiêu Phong, từ khi biết nàng đến nay, bây giờ là hình ảnh đẹp hơn cả. Nàng rút bảo đao, định chặt còng cho Tiêu Phong nhưng cái còng đó dính sát vào tay, nếu chỉ lệch đi một chút thì ắt sẽ bị thương, không phải dễ cắt. Nàng bèn đưa bảo đao cho Đoàn Dự:

– Ca ca chặt đi.

Đoàn Dự cầm lấy bảo đao, truyền nội lực vào, chặt cái khóa sắt thật chẳng khác gì gỗ mục. Vừa lúc đó trong hang lại chui ra thêm ba người nữa, một người là Chung Linh, một người là Mộc Uyển Thanh còn người thứ ba là một đệ tử tám túi trong Cái Bang. Y là một hảo thủ giỏi nghề sai khiến rắn, vừa rồi độc xà chạy lung tung trong đại sảnh chính là do y trổ tài. Gã đó thấy Tiêu Phong không hề hấn gì mừng đến chảy nước mắt ấp úng:

– Bang chủ, lão nhân gia…

Tiêu Phong đã lâu không nghe ai gọi mình là bang chủ, thấy thần tình của gã đệ tử Cái Bang, trong lòng hết sức xúc động, nói:

– Thật mất công ngươi quá nhỉ?

Ông khen một câu khiến gã ăn mày lại càng cảm kích, lại vừa vinh dự, nước mắt

ròng ròng. Phạm Hoa nói:

– Nhân mã nước Đại Lý đang động thủ tại cửa đông, mình nên thừa cơ hỗn loạn chạy đi thôi. Tiêu đại vương tốt hơn hết đừng ra tay để người ta có thể nhận ra được.

Tiêu Phong đáp:

– Phải lắm.

Chín người lập tức từ cửa lớn xông ra. Tiêu Phong quay đầu lại nhìn, thì ra đây là một căn nhà gạch đổ nát, bên ngoài trông rất bệ rạc. A Tử dùng tiếng Khất Đan kêu lớn:

– Lấy nước mau! Lấy nước mau!

Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn cả bọn bắt chước nàng, cũng la lối theo. Ba Thiên Thạch, Phạm Hoa nhìn quanh quất không thấy tên Liêu binh nào nên đến đâu châm lửa đến đó, chẳng mấy chốc đã đốt đến bảy tám chỗ.

Chín người chạy về hướng tây. Bọn Đoàn Dự vốn đã thay y phục Khất Đan rồi, trong thành lại đang đại loạn chẳng ai chú ý, chỉ khi nào thấy đại đội binh mã Khất Đan đuổi theo thì mới kiếm những chỗ tối tăm ẩn náu. Chạy qua khỏi hơn chục con đường đã nghe phương bắc có tiếng tù và rầm rĩ, tiếng người lao xao, kêu la:

– Chao ôi, quân địch đánh vào cửa bắc, hoàng thượng bị địch bắt rồi. Tiêu Phong hoảng hốt vội ngừng chân hỏi:

– Liêu đế bị bắt ư? Tam đệ, Liêu đế là anh kết nghĩa của ta, y tuy đối với ta bất nhân nhưng ta không thể đối với y bất nghĩa, nhất định không nên giết y… A Tử cười đáp:

– Tỉ phu yên tâm, đây là ba mươi sáu động chủ, bảy mươi hai đảo chủ của cung Linh Thứu. Tiểu muội dạy họ thuộc lòng mấy câu Khất Đan, bây giờ la lên để phao tin nhảm làm loạn lòng người đấy thôi. Trong thành Nam Kinh trọng binh trú đóng, hoàng đế có đến hơn vạn thân binh bảo hộ, làm sao bắt được?

Tiêu Phong mừng rỡ hỏi:

– Thuộc hạ của nhị đệ cũng đến rồi hay sao? A Tử đáp:

– Nào chỉ thuộc hạ của tiểu hòa thượng thôi đâu, chính chú tiểu cũng đến nữa, luôn cả vợ y cũng đi theo.

Tiêu Phong ngạc nhiên:

– Cái gì mà lại vợ chú tiểu? A Tử cười đáp:

– Tỉ phu không biết đâu, vợ của Hư Trúc Tử chính là công chúa Tây Hạ, có điều mặt lúc nào cũng lấy khăn che kín mít, trừ một mình tiểu hòa thượng ra, không một ai thấy cả. Tiểu mưội có hỏi y: “Vợ nhị ca đẹp không?” thì y chỉ cười không trả lời.

Tiêu Phong khi đó bỏ đi bây giờ lại nghe chuyện lạ lùng thế này, tuy mừng thầm cho Hư Trúc, nhưng không khỏi đưa mắt dò ý Đoàn Dự. Đoàn Dự cười nói:

– Đại ca chớ có lo xa, tiểu đệ không để bụng đâu, nhị ca cũng không phải là thất tín. Chuyện này nói ra dài dòng, mình sẽ từ từ nói chuyện sau.

Nói tới đây thì đoàn người đã chạy thêm được một quãng, thấy đằng trước trên một bãi đất rộng có một cái đài cao, lửa cháy ngút trời, hai cột cờ lớn trước mặt lửa đang cháy lem lém. Tiêu Phong biết khu đất này là đại hiệu trường, dùng cho Liêu binh tập luyện, không biết cái đài này dựng lên từ bao giờ mà mình không hay biết.

Ba Thiên Thạch nói với Đoàn Dự:

– Bệ hạ, điểm tướng đài và soái tự kỳ của Liêu đế bị đốt thế này, quả là điềm gở cho quân Liêu, chuyến hành quân phạt Tống của Gia Luật Hồng Cơ e rằng không xong.

Đoàn Dự gật đầu:

– Quả đúng như thế.

Tiêu Phong nghe y gọi là “bệ hạ” mà Đoàn Dự cũng gật gù, trong bụng lấy làm lạ hỏi:

– Tam đệ, ngươi… ngươi đã lên ngôi hoàng đế rồi đấy ư? Đoàn Dự buồn bã đáp:

– Tiên phụ bất hạnh giữa đường băng tồ, hoàng bá phụ lại bỏ ngai vàng đi tu, xuất gia ở chùa Thiên Long nên ép tiểu đệ tiếp vị. Tiểu đệ không tài không đức, ở ngôi cao thế này, thực là xấu hổ.

Tiêu Phong kinh hãi:

– Ối trời, bá phụ khứ thế rồi ư? Tam đệ, ngươi là chúa một nước Đại Lý, sao lại vì ta mà đem thân vào chỗ nguy nan, mạo hiểm thế này? Nếu bị tổn thương, thì ta… ta… thật không phải với quân dân Đại Lý.

Đoàn Dự cười khì khì nói:

– Đại Lý chỉ là một nước nhỏ ở một góc nam cương, hai chữ “hoàng đế” kể cũng quá đáng. Tiểu đệ ngờ nghệch, trông chẳng ra vẻ ông vua, có chút nào giống hoàng đế đâu? Để người ta gọi là “bệ hạ” quả thật xấu hổ. Huynh đệ ta tình như cốt nhục, đại ca bị nạn, tiểu đệ lẽ nào không chia xẻ với nhau một chút hay sao?

Phạm Hoa nói:

– Tiêu đại vương lần này hết sức can ngăn Liêu đế, khuyên đừng phạt Tống, tệ quốc từ trên xuống dưới ai ai cũng thâm cảm đại đức. Liêu đế nếu lấy được Đại Tống rồi, bước kế tiếp ắt sẽ thu Đại Lý. Tệ quốc binh ít tướng yếu, làm sao chống chọi được với tinh binh Đại Liêu? Tiêu đại vương cứu Đại Tống mà cũng là cứu Đại Lý, Đại Lý từ rày hết lòng hết dạ ra sức vì đại vương thì cũng là chuyện đương nhiên thôi.

Tiêu Phong nói:

– Ta chỉ là một kẻ dũng phu, chỉ vì không đành lòng để hai nước giao chiến, hại thương bách tính, chứ đâu có công lao gì?

Vừa nói đến đây, bỗng thấy phía nam lửa bốc lên ngút trời, một đoàn người tay xách nách mang, chen vào đoàn quân cùng chạy qua, ai nấy kêu la:

– Các hòa thượng chùa Thiếu Lâm cùng vô số hảo hán đang đánh vào cửa nam. Lại có người nói:

– Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong làm loạn, hàng nhà Tống rồi, đã giết mất hoàng đế Đại Liêu.

Lập tức có mấy người Khất Đan nghiến răng trợn mắt nói:

– Gã Tiêu Phong phản quốc hàng địch, bọn ta hận không được lột da ăn thịt y. Một người khác liền hoảng hốt hỏi lại:

– Có thực là vạn tuế gia bị tên gian tặc Tiêu Phong sát hại không? Một người liền đáp:

– Sao lại không thực? Chính mắt ta thấy gã Tiêu Phong cưỡi một con ngựa trắng, xông đến trước mặt vạn tuế, đâm một giáo từ ngực vạn tuế gia suốt tận bên kia. Một ông già nói:

– Tên cẩu tặc Tiêu Phong đó sao vô lương tâm thế? Thế thì quả thực y là người

Khất Đan hay là người Hán? Một hán tử đáp:

– Nghe nói y là man tử Nam triều giả làm người Khất Đan, tên cẩu tặc đó thật gian ác, quả không bằng loài cầm thú.

A Tử nghe những người đó nhục mạ Tiêu Phong nổi giận, vung roi đánh ngựa, tính quật vào gã Khất Đan ở bên cạnh. Tiêu Phong vội giơ tay gạt ra, lắc đầu nói nhỏ:

– Cứ để cho họ nói gì thì nói. Ông hỏi thêm:

– Có thực là các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm đã đến rồi chăng? Gã đệ tử tám túi đáp:

– Xin bẩm với bang chủ: Đoàn cô nương từ Nam Kinh đi ra gặp ngay Ngô trưởng lão của bản bang, nói là bang chủ vì sinh mạng của bách tính Đại Tống nên nhất định khuyên Liêu đế đừng xuất quân chinh phạt nên đã bị cầm tù. Ngô trưởng lão không tin, bảo là bang chủ người Liêu, lẽ nào lại lo cho người Tống? Y bèn lẻn vào Nam Kinh đích thân nghe ngóng, thấy lời của Đoàn cô nương quả không sai. Ngô trưởng lão lập tức truyền “Thanh Trúc Lệnh” của bản bang, đem hành vi đại nhân đại nghĩa của bang chủ truyền khắp anh hùng thiên hạ. Võ lâm Trung Nguyên cảm kích ân đức nên do các cao tăng Thiếu Lâm thống lãnh tất cả đều đến cứu viện bang chủ.

Tiêu Phong nghĩ đến năm xưa nơi Tụ Hiền Trang đối địch với quần hùng Trung Nguyên, giết không ít anh hùng hảo hán, hôm nay họ lại đi cứu mình, trong lòng không khỏi băn khoăn, lại thêm cảm kích. A Tử nói:

– Tin tức do các bạn ăn mày trong Cái Bang truyền ra thảo nào nhanh đến thế! Chao ôi, hỏng rồi, tiếc quá, tiếc quá!

Đoàn Dự hỏi lại:

– Tiếc cái gì?

– Cái tòa Thần Mộc Vương Đỉnh của muội, đốt hương để trong đại sảnh để dụ rắn, lập cập quá nên quên mang theo.

Đoàn Dự cười nói:

– Cái thứ bàng môn tả đạo đó, quên thì thôi, mang theo làm gì? A Tử đáp:

– Hứ, cái gì mà bàng môn tả đạo? Không có món bảo vật đó, làm sao dụ được nhiều rắn độc đến mau như vậy, để cho tỉ phu có thể dễ dàng thoát thân?

Còn đang nói chuyện đã nghe tiếng binh khí chạm nhau leng keng leng keng không dứt, dưới ánh lửa thấy vô số Liêu binh đánh lẫn nhau. Tiêu Phong lạ lùng:

– Ồ, sao bên mình… Đoàn Dự đáp:

– Đại ca, người nào cổ có buộc vải trắng là phe ta.

A Tử lấy ra một manh vải trắng đưa cho Tiêu Phong nói:

– Tỉ phu buộc vào đi.

Trong một thoáng, Tiêu Phong biết là Liêu binh không phân biệt ai là bạn, ai là thù không biết phải giết ai. Đánh nhau một hồi trở thành người Liêu tàn sát lẫn nhau. Những người cổ có buộc vải trắng chém đao nào, đâm mũi giáo nào cũng nhằm binh sĩ nước Liêu. Tiêu Phong thấy người Liêu chết nằm ngổn ngang, máu đầy mặt đất, tay cầm miếng vải mà run lên bần bật, trong lòng nghe như có tiếng vang lên: “Ta là người Khất Đan, không phải người Hán! Ta là người Khất Đan, không

phải người Hán!”. Miếng vải đó ông không làm sao buộc lên cổ mình được. Ngay lúc đó có tiếng kẹt kẹt vang lên, hai cánh cửa thành nặng nề từ từ mở.

Đoàn Dự và Phạm Hoa kèm Tiêu Phong cùng chạy ra. Ngoài thành dưới ánh lửa đuốc bập bùng, vô số người của Cái Bang dắt ngựa chờ sẵn, vừa thấy Tiêu Phong xông ra lập tức reo hò ầm ỹ:

– Kiều bang chủ! Kiều bang chủ!

Lửa sáng rực cả bầu trời, tiếng người vang động mặt đất. Lại thấy hai con rồng lửa uốn éo ở hai bên, một người cưỡi ngựa từ chính giữa chạy thẳng đến. Ngồi trên ngựa là một người ăn mày già hai tay cầm cây gậy đánh chó, tín vật của bang chủ Cái Bang giơ lên khỏi đầu, chính là Ngô trưởng lão. Y chạy đến trước mặt Tiêu Phong, nhảy xuống ngựa, quỳ dưới đất nói:

– Ngô Trường Phong được chúng huynh đệ ủy thác, giao đả cẩu bổng của bản bang lại cho bang chủ. Chúng tôi quả thực hồ đồ đáng chết, đầu óc lú lẩn, nghi oan cho người ngay, khiến cho bang chủ phải chịu muôn vàn khổ sở. Chúng tôi thật không bằng con heo con chó, chỉ mong bang chủ không chấp nhất lỗi lầm của kẻ tiểu nhân, thương hại bọn chúng tôi bơ vơ côi cút, không nơi nương tựa mà quay trở lại nhận chức bang chủ. Chúng tôi bị kẻ gian xúi biểu, bảo bang chủ là Hồ cẩu Khất Đan, quả là đáng chết. Chúng tôi đã đem tên gian đồ Toàn Quan Thanh loạn đao phân thi để rửa hờn cho bang chủ rồi.

Nói xong y đưa chiếc gậy đánh chó cho Tiêu Phong. Tiêu Phong trong lòng chua chát nói:

– Ngô trưởng lão, tại hạ quả thực là người Khất Đan. Được các vị trọng nghĩa đối đãi như thế, tại hạ cảm kích không đâu cho hết nhưng chức vị bang chủ quả vạn lần không dám đảm đương.

Ông vừa nói vừa đưa tay đỡ Ngô trưởng lão lên. Ngô Trường Phong thần tình hoang mang, vò đầu bứt tai ấp úng:

– Ông… ông cũng bảo ông là người Khất Đan ư? Ông… không nhận chức bang chủ? Kiều bang chủ, mọi người chúng ta đều biết lỗi sai, xin ông rộng lượng đừng giận chúng tôi nữa.

Bỗng nghe phía trong thành tiếng trống nổi lên rồi đại đội Liêu binh xông ra. Tiêu Phong kêu lên:

– Ngô trưởng lão, chúng mình chạy đi thôi. Liêu binh dũng mãnh, nếu kết thành trận thế thì không thể nào chống nổi.

Tiêu Phong biết rằng Cái Bang và quần hùng Trung Nguyên nhất thời chiếm được thượng phong, chẳng qua là do tấn công bất ngờ khiến đối phương trở tay không kịp, còn như thực sự hai bên giao chiến thì một nghìn, vài trăm nhân vật giang hồ làm sao chống nổi với hàng vạn quân tinh nhuệ? Huống chi nếu đã hỗn chiến rồi, hai bên tử thương đều nặng như thế trái với bản ý của mình, bèn nói:

– Ngô trưởng lão, vấn đề bang chủ, để từ từ rồi tính sau cũng chưa muộn. Ông mau truyền lệnh cho các anh em rút lui về hướng tây.

Ngô Trường Phong đáp:

Y lập tức truyền lệnh ra, bang chúng Cái Bang hậu đội đổi thành tiền đội, chạy về hướng tây. Chẳng bao lâu Hư Trúc Tử cũng suất lãnh các thuộc hạ chư nữ cùng các dị sĩ bảy mươi hai đảo, ba mươi sáu động đánh rốc qua để cùng nhau hợp lại. Chạy được mấy dặm, các võ sĩ Đại Lý dưới quyền điều động của Phó Tư Quy, Chu Đan Thần cũng chạy đến. Thế nhưng quần tăng Thiếu Lâm và quần hào Trung Nguyên thì vẫn không thấy đâu. Chỉ nghe văng vẳng tiếng chém giết trong thành Nam Kinh

Tiêu Phong nói:

– Quần hào và phái Thiếu Lâm bị kẹt lại trong thành rồi, mình chịu khó chờ thêm chút nữa.

Một hồi sau, tiếng la ó trong thành càng thêm rầm rĩ. Đoàn Dự nói:

– Đại ca đợi ở đây để tiểu đệ đi vào tiếp ứng bọn họ chạy ra.

Chàng liền dẫn võ sĩ Đại Lý chạy trở vào thành Nam Kinh. Khi đó trời đã sáng dần, Tiêu Phong trong lòng lo lắng, không biết quần hào Nam Kinh có thoát hiểm chăng, lại nghe sát thanh càng lúc càng lớn, các võ sĩ Đại Lý quay trở vào đã lâu mà không thấy một ai chạy ra được.

Một tên thám tử Cái Bang cưỡi ngựa chạy ra báo:

– Mấy nghìn quân thiết giáp Liêu binh chặn cửa Tây rồi, võ sĩ Đại Lý không qua nổi, mà quần hào Trung Nguyên cũng không ra được.

Hư Trúc phất tay một cái, kêu lên:

– Linh Thứu Cung chúng ta xông vào tiếp ứng.

Y liền dẫn hai nghìn hảo hán các lộ, cùng cửu bộ chư nữ quay trở lại. Tiêu Phong cưỡi trên mình ngựa, nhìn qua hướng đông, thấy trong thành Nam Kinh khói bốc khắp nơi, đông một ngọn lửa, tây một ngọn lửa không biết hỗn loạn như thế nào rồi. Đợi đến hơn nửa giờ, lại thêm một tên thám tử nữa chạy ra báo:

– Đoàn hoàng gia Đại Lý và Hư Trúc Tử tiên sinh cung Linh Thứu đã mở một đường máu vào được trong thành rồi.

Trước đây mỗi khi có giao chiến Tiêu Phong bao giờ cũng thân tiên sĩ tốt, lần này lại phải đứng ở xa xa chỉ biết sốt ruột lo lắng, thật chịu không nổi, bèn nói:

– Để ta đi xem!

A Tử, Mộc Uyển Thanh, Chung Linh ba người cùng khuyên:

– Người Liêu phải bắt được đại ca mới thôi, nhất định chớ nên mạo hiểm. Tiêu Phong đáp:

– Không sao!

Ông giục ngựa chạy lên, các bang chúng Cái Bang liền theo sau. Đến bên ngoài cửa tây thành Nam Kinh thấy dưới chân thành, trên bờ thành cùng dưới hào có đến mấy trăm người chết, cả binh tướng nước Liêu lẫn bộ thuộc của Đoàn Dự và Hư Trúc. Cửa thành còn đang đóng hờ, hai tên đảo chủ tay cầm đại đao, chặn ngay cửa thành đang đánh nhau với quân Liêu không cho chúng đóng cửa lại.

Bỗng nghe từ phía nam phía bắc tiếng vó ngựa dồn dập, Tiêu Phong kinh hãi:

– Không xong rồi, đại đội Liêu binh đang chia hai đường bao vây lại, chúng mình không nên chịu khốn ở nơi đây.

Ông cầm lấy một cái giáo gẫy nhảy vọt lên, chống mũi giáo vào tường, mượn sức nhảy thêm lần nữa, liên tiếp mấy lần đã lên được đầu thành, nhìn vào bên trong, thấy trong khoảng mấy dặm vuông ở mạn tây, chỗ này một đám, chỗ kia một đám, hào kiệt Trung Nguyên bị quân Liêu vây đánh, xem ra nơi nào cũng chỉ ở đâu lo đấy. Quần hào tuy võ công cao cường nhưng mỗi người phải đánh với bảy tám, có khi mười người không chừng, một hồi lâu đều lâm vào thế quả bất địch chúng.

Tiêu Phong đứng ở trên đầu thành, nhìn vào trong thành rồi lại nhìn ra ngoài, trong lòng khó xử vạn phần: Quần hào vì cứu mình mà đến, không lẽ lại đứng giương mắt trơ trơ nhìn họ bị Liêu binh giết hại, thế nhưng nếu nhảy xuống cứu, thì là công khai chống lại nước Liêu, thành kẻ Liêu gian phản quốc. Còn như chạy khỏi Nam Kinh bỏ nước tị nạn, người ngoài chẳng qua chỉ mỉa mai “Tiêu

Phong bất trung” chứ nếu quay giáo chống Liêu thì tội lỗi đối với đất nước trở thành cực kỳ to lớn.

Tiêu Phong hành sự xưa nay hào sảng thẳng thắn, quyết đoán cực nhanh, bây giờ ở vào thế hai mặt đều là đường cùng, trong một thoáng đã thấy bên tường thành bảy tám tên võ sĩ Khất Đan vây đánh hai nhà sư Thiếu Lâm. Một nhà sư múa giới đao, miệng hộc máu, đủ biết đã bị thương nặng, Tiêu Phong chăm chú nhìn nhận ra đó là Huyền Minh, còn nhà sư kia múa thiền trượng hết sức hộ vệ, chính là Huyền Thạch. Hai tên Liêu binh múa trường đao chém xuống Huyền Minh. Huyền Minh đã bị trọng thương, không đỡ nổi. Huyền Thạch vội đảo thiền trượng, hất cán lên, đánh giạt hai thanh đao ra. Chỉ nghe Huyền Minh kêu rú lên một tiếng, vai trái đã trúng đao. Huyền Thạch vội tạt trượng ra đánh tên lính Liêu xương gân gãy nát. Thế nhưng cũng vì thế mà ngực bị trống, một tên võ sĩ Khất Đan liền cầm mâu đâm vào, trúng ngay bụng Huyền Thạch. Thiền trượng Huyền Thạch đập xuống, tên lính kia nát đầu nhưng xem ra y cũng chỉ chết trước ông giây lát. Huyền Minh múa loạn thanh đao chẳng còn chiêu số gì nữa, nước mắt chảy dài kêu lên:

– Sư đệ! Sư đệ!

Tiêu Phong thấy thế nhiệt huyết dâng tràn, quát lớn:

– Tiêu Phong ở đây, muốn giết thì đến giết ta đi, chớ có hại người vô tội. Ông từ trên tường thành nhảy xuống, còn ở trên không đã đá văng hai tên lính Liêu ra xa, chân vừa chấm đất đã một tay chộp Huyền Minh, tay kia tiếp lấy thiền trượng của Huyền Thạch, kêu lên:

– Tại hạ cứu viện quá chậm, tội nghiệt quả là thâm trọng.

Ông liền vung thiền trượng hất hai tên võ sĩ Khất Đan ra ngoài mấy trượng. Huyền Thạch gượng gạo đáp:

– Chúng tôi vu oan cho cư sĩ là người Khất Đan, tội nghiệt còn nặng hơn, thiện tai, thiện tai! Hôm nay cạn ao bèo…

Hai chữ “xuống đất” chưa nói hết đã hộc máu, đầu ngoẹo qua tắt thở. Tiêu Phong tay đỡ Huyền Minh, xông qua bên trái vào nơi mấy tên võ sĩ Đại Lý đang bị vây. Binh tướng nước Liêu thấy Nam Viện Đại Vương thần uy lẫm lẫm xuất hiện, ai nấy khiếp đảm. Tiêu Phong vũ động thiền trượng, xa thì đâm, gần thì đánh, tuy không giết người nhưng ai gặp phải cũng đều bị thương. Lính Liêu vội vàng bỏ chạy, Tiêu Phong tả xung hữu đột, trong khoảnh khắc đã tụ được hai trăm người lại một chỗ. Ông lớn tiếng kêu:

– Các vị chớ có tách rời nhau.

Ông cùng hai trăm người đó chạy khắp nơi, thấy dâu có người bị vây liền xông đến, cứu người ra, chẳng khác gì tuyết lăn, càng lúc càng lớn, đến lúc được trên nghìn người rồi thì Liêu binh không còn ngăn cản được nữa. Sau đó Tiêu Phong cùng Hư Trúc, Đoàn Dự và Huyền Độ đại sư của phái Thiếu Lâm dẫn quần hào Trung Nguyên xông ra cửa thành.

Tiêu Phong tay cầm thiền trượng, đứng bên cổng thành, nhường cho quần hào Đại Lý, Linh Thứu Cung và Trung Nguyên ba đường nhân mã lần lượt ra khỏi thành.

Binh tướng nước Liêu chỉ đứng xa xa hò hét, không ai dám xông lên tấn công. Tiêu Phong đợi cho mọi người ra hết rồi mới ra sau cùng, ra khỏi cửa thành quay đầu nhìn lại, thấy xác chết khắp nơi, trận chiến này chết không biết bao nhiêu người, còn thấy hai nữ tướng cung Linh Thứu nằm gục trong đống máu rên rỉ quằn quại, ông lại quay vào chộp lưng hai người đó xách chạy ra.

Bỗng nghe tiếng trống đánh rầm trời, hai đội kỵ binh theo hai bên nam bắc xông tới. Tiêu Phong nhất thời rùng mình, hai đội này mỗi đội phải trên một vạn

người, bên mình đánh đã lâu, người nào không bị thương thì cũng mỏi mệt lắm rồi làm sao ngự địch được nữa? Ông bèn kêu lên:

– Bang chúng Cái Bang đoạn hậu, nhường ngựa cho các anh em bị thương chạy trước.

Những người Cái Bang lớn tiếng đáp ứng, lục tục xuống ngựa. Tiêu Phong lại quát:

– Kết thành Đả Cẩu Đại Trận.

Bang chúng Cái Bang miệng đọc bài “Liên Hoa Lạc”, sắp thành một bức tường người. Tiêu Phong hô tiếp:

– Huyền Độ đại sư, nhị đệ, tam đệ, mau mau suất lãnh các bằng hữu rút lui về hướng tây để cho Cái Bang đi sau chặn đường.

Mặt trời lúc ấy vừa mới lên, chiếu vào lưỡi đao mũi giáo quân Liêu lấp loáng, hàng vạn vó ngựa nhịp trên mặt đất khiến cho núi đồi rung chuyển. Hư Trúc và Đoàn Dự thấy thế của quân Liêu, biết Đả Cẩu Đại Trận của Cái Bang không thể nào ngăn chặn nổi, liền đứng hai bên Tiêu Phong nói:

– Đại ca, huynh đệ mình kết nghĩa, có nạn cùng chịu, sống chết bên nhau. Tiêu Phong đáp:

– Vậy các ngươi mau bảo bản bộ nhân mã rút lui trước đi.

Hư Trúc, Đoàn Dự lập tức truyền lệnh. Thế nhưng bộ thuộc Linh Thứu Cung nhất định không bỏ chủ nhân ở lại, tướng sĩ Đại Lý cũng không chịu để hoàng đế ở nơi hiểm địa, bỏ chạy lấy mình. Trước mắt thấy quân Liêu mỗi lúc một gần, tên bắn rơi chỉ còn cách bọn Tiêu Phong chừng mươi trượng, Huyền Độ vốn dĩ đã dẫn quần hào Trung Nguyên chạy được một quãng, lúc này thấy tình hình hung hiểm, lại có mấy chục người quay trở lại trợ chiến.

Tiêu Phong bụng ngầm than khổ, nghĩ thầm: “Những người này ai nấy võ công cao cường nhưng tụ tập một nơi cũng chỉ là một bầy ô hợp, không theo binh pháp bố trí thì đánh sao lại quân Liêu? Ta có chết cũng chẳng hề chi, nhưng tất cả mọi người sẽ đều chết bên ngoài thành Nam Kinh này, thế mới… thế mới…”.

Còn đang chưa biết tính sao, đột nhiên trong đại quân Liêu phèng la rầm rĩ, chính là tiếng chiêng thu quân. Đám quân Liêu đang hùng hổ phóng tới nghe tiếng phèng la, vội vàng chuyển đầu ngựa, hậu đội biến thành tiền đội, chia ra hai hướng nam bắc quay trở về. Tiêu Phong ngạc nhiên không hiểu vì lý do gì, chỉ thấy phía sau đoàn quân tiếng hò reo rầm rĩ, bụi bay mù mịt, dường như có quân mã đang tấn công vào hậu diện, lại càng kỳ quái: “Sao phía sau quân Liêu lại có binh mã, không lẽ có kẻ nào nổi loạn hay sao? Hoàng thượng trước mặt sau lưng đều thụ địch, e rằng có chuyện không hay”. Ông thấy quân Liêu bị khốn lập tức nghĩ đến an nguy của Gia Luật Hồng Cơ.

Tiêu Phong nhảy lên lưng ngựa, nhìn qua trận thế quân Liêu, thấy khắp nơi cờ trắng phất phới, tên bắn như mưa rào, quân Liêu lả tả rơi xuống ngựa. Tiêu Phong lập tức hiểu ra: “À, các bằng hữu của bộ tộc Nữ Chân đã đến rồi đây, không biết vì sao họ lại biết tin?”.

Người Nữ Chân tiễn pháp thật thần kỳ, lại thêm dũng mãnh, cứ một trăm người thành một tiểu đội, nằm nép qua một bên ngựa, hò hét vang rân xông vào xung sát, trong chốc lát đã làm loạn thế trận của quân Liêu. Người Nữ Chân tuy nhân số không đông nhưng dũng mãnh thiện chiến, lại tấn công bất ngờ nên viên chỉ huy quân Liêu thấy tình hình bất lợi, sợ nhân mã của Tiêu Phong tấn công phía trước vội vàng thu binh rút lui vào trong thành.

Phạm Hoa là đại tư mã của Đại Lý, tinh thông binh pháp, thấy có thể khai thác

cơ hội vội vàng bẩm với Tiêu Phong:

– Tiêu đại vương, mình nên mau mau xung sát, bây giờ chính là lương cơ để phá giặc.

Tiêu Phong lắc đầu. Phạm Hoa lại nói:

– Nơi đây còn cách Nhạn Môn Quan rất xa, nếu không thừa cơ phá tan quân Liêu thì sẽ để lại hậu hoạn. Quân địch đông, quân ta ít thực khó mà rút lui cho an toàn được.

Tiêu Phong lại lắc đầu. Phạm Hoa không hiểu tại sao, nghĩ thầm: “Tiêu đại vương không muốn đuổi tận sát tuyệt, không lẽ còn muốn giữ lại chút tình trước đây với Liêu đế chăng?”.

Trong đám khói bụi mù mịt, một đoàn người Nữ Chân kẻ thì cởi trần thân trên, kẻ thì khoác da thú, cưỡi ngựa xông tới chém giết, tên nỏ bắn vèo vèo không để sót một ai. Khoảng hơn một nghìn quân Liêu đi sau cùng không kịp vào thành đều bị người Nữ Chân bắn chết nằm gục dưới chân thành.

Người Nữ Chân cạo sạch tóc phía trước trán, đằng sau tết thành đuôi sam, ai nấy mặt mày dữ tợn, người đầy máu, bắn chết địch thủ rồi liền vung dao chặt luôn thủ cấp, đeo vào lưng, có người đeo đến hơn chục cái đầu lâu. Quần hào ở trên giang hồ từng chứng kiến xung sát đã nhiều nhưng hung ác tàn nhẫn của những người man rợ này bây giờ mới thấy lần đầu, không ai là không kinh hãi.

Một gã thợ săn cao lớn đứng trên mình ngựa, lớn tiếng gọi:

– Tiêu đại ca, Tiêu đại ca, Hoàn Nhan A Cốt Đả đến giúp đại ca đây.

Tiêu Phong phóng ngựa chạy vụt lên, hai người bốn bàn tay nắm chặt lấy nhau. A Cốt Đả vui mừng nói:

– Tiêu đại ca, hôm đó đại ca không từ biệt mà đi mất khiến cho huynh đệ ngày ngày thương nhớ, về sau nghe thám tử nói Tiêu đại ca làm quan to bên nước Liêu, cũng yên tâm. Có điều người Liêu giảo hoạt, đại ca làm quan e không được lâu bền. Quả nhiên hôm trước nghe báo: đại ca bị tên hoàng đế chó má kia giam tại trong ngục, huynh đệ vội đem binh mã tới cứu, may quá ca ca không chết cũng không bị thương, huynh đệ vui mừng lắm.

Tiêu Phong đáp:

– Đa tạ người anh em tới cứu.

Nói chưa dứt câu, trên đầu thành tên bắn xuống như mưa nhưng hai người đứng khá xa nên tên không thể bắn tới được. A Cốt Đả giận dữ nói:

– Đồ Khất Đan chó má! Ta đang cùng ca ca nói chuyện lại dám phá đám.

Y giương cung lên, vèo vèo vèo từ chân thành bắn luôn ba mũi tên, chỉ nghe ba tiếng kêu thảm thiết, ba tên Liêu binh trúng tiễn, từ bên trên lộn nhào xuống. Liêu binh bắn không tới y trong khi y dùng cung cứng tên dài bắn được xa hơn, ba phát trúng cả ba. Trên đầu thành lính Liêu kêu la rầm rĩ, vội vàng lấy cung về đưa khiên ra đỡ. Chỉ nghe trong thành tiếng trống đánh thùng thùng, thì ra quân Liêu đã tập hợp binh lính, kiểm điểm tướng sĩ.

A Cốt Đả lớn tiếng nói:

– Bầy sói nghe đây! Bọn chó má Khất Đan đang tính chui ra khỏi cái lỗ chó đó, mình xông vào giết chúng một mẻ nữa cho sướng tay.

Người Nữ Chân lớn tiếng reo hò tưởng chừng như hàng vạn con thú cùng tru lên. Tiêu Phong nghĩ bụng nếu hai bên đánh trận này, tử thương ắt là rất nặng vội can:

– Huynh đệ, ngươi tới cứu ta, lúc này ta đã thoát hiểm rồi, còn đánh nữa làm gì? Hai anh em ta lâu ngày không gặp, đi tìm chỗ nào an tĩnh uống một trận cho

túy lúy xem nào.

Hoàn Nhan A Cốt Đả nói:

– Nếu đại ca đã nói thế thì thôi mình đi.

Chỉ thấy cửa thành mở toang, một đội thiết giáp quân Liêu cưỡi ngựa phóng ra. A Cốt Đả cất tiếng chửi:

– Giết cho sạch bọn Khất Đan chó má.

Y lắp tên giương cung bắn vụt ra, trúng ngay mặt tên đi đầu, lập tức ngã xuống ngựa. Những người Nữ Chân còn lại cũng bắn ra, bắn phát nào cũng trúng mặt người Liêu. Những người đó tiễn pháp rất tinh xảo, đầu mũi tên lại tẩm thuốc độc, người trúng tên không kip hự lên tiếng nào đã lăn ra chết ngay, chỉ phút chốc ngoài cửa thành đã có đến mấy trăm người chết, người ngựa khôi giáp chất thành một cái gò nhỏ, chặn mất cửa thành. Những người Liêu còn lại sợ đến hết hồn vội đóng chặt cửa thành không dám ra thêm nữa.

Hoàn Nhan A Cốt Đả liền suất lãnh người trong bộ tộc mình dưới chân thành diệu võ dương uy, to mồm chửi rủa. Tiêu Phong nói:

– Huynh đệ, thôi mình đi. A Cốt Đả đáp:

Y chỉ tay lên thành chửi:

– Bọn chó Khất Đan nghe đây, may cho các ngươi không đụng tới một sợi lông măng của Tiêu đại ca nên hôm nay tha cho khỏi chết. Nếu không ta đã phá thành bắt bọn chó chúng bay từng đứa một ra bắn bỏ.

Sau đó y cùng Tiêu Phong cưỡi ngựa song song đi về hướng tây, đi hơn chục dặm đến một ngọn đồi. A Cốt Đả nhảy xuống ngựa, từ bên yên ngựa lấy ra một túi rượu đưa cho Tiêu Phong nói:

– Ca ca, uống rượu.

Tiêu Phong cầm lấy, uống ừng ực một hơi hết nửa bình rồi giao lại cho A Cốt Đả. A Cốt Đả uống sạch chỗ còn lại nói:

– Ca ca, chi bằng ca ca theo huynh đệ đến núi Trường Bạch, săn bắn uống rượu, tiêu dao khoái hoạt.

Tiêu Phong biết rõ tính khí Gia Luật Hồng Cơ, hôm nay bị A Cốt Đả đánh thua một trận ở Nam Kinh lại lên tiếng nhục mạ, thật là mất mặt, ắt sẽ không bỏ qua, thể nào cũng đem binh sang đánh. Người Nữ Chân tuy dũng mãnh thật nhưng dẫu sao cũng ít người, thắng bại thực không thể biết trước chi bằng không đánh nhau là hơn. Ông nghĩ đến hồi trước ở núi Trường Bạch, ngoài việc trị thương cho A Tử ra không phải lo nghĩ gì, cũng chẳng tranh danh đoạt lợi với ai, nếu từ nay ở với người Nữ Chân thì sẽ tránh được bao nhiêu phiền nhiễu bèn nói:

– Huynh đệ, những anh hùng hào kiệt từ Trung Nguyên đến đây cũng đều vì cứu ta mà ra, để ta tiễn họ đến Nhạn Môn Quan rồi sẽ cùng người anh em gặp lại.

A Cốt Đả mừng rỡ đáp:

– Bọn man tử Trung Nguyên xí xa xí xô phần nhiều không phải người tốt, ta cũng chẳng muốn gặp họ làm chi.

Nói xong dẫn tất cả tộc nhân chạy về hướng bắc. Quần hào Trung Nguyên thấy những người Nữ Chân đó đến đi nhanh như gió thoảng, cực kỳ táo tợn nghĩ thầm: “Bọn người Phiên này còn ghê gớm hơn cả bọ Liêu cẩu, cũng may họ là bằng hữu của Kiều bang chủ, nếu không thì nguy to”.

Các lộ nhân mã dần dần tụ lại một chỗ, bàn tán xôn xao về trận ác chiến dưới thành Nam Kinh mới rồi. Tiêu Phong cúi rạp tận đất nói:

– Đa tạ các vị đại nhân đại nghĩa, không nhớ chuyện ác cũ của Tiêu mỗ, nghỉn dăm bôn ba đến cứu, ân đức này Tiêu mỗ mãi mãi không thể nào báo đền nổi.

Huyền Độ nói:

– Kiều bang chủ nói thế là thế nào? Những chuyện ngày trước cũng đều vì hiểu lầm mà sinh ra cớ sự, võ lâm đồng đạo gặp nạn tương trợ cũng là chuyện đương nhiên. Huống chi Kiều bang chủ không nề sinh tử an nguy, từ bỏ vinh hoa phú quý cũng chỉ vì sinh linh bách tính Trung Nguyên, nhân đức ấy thấm nhuần thiên hạ, chúng tôi phải cảm ơn Kiều bang chủ mới phải.

Phạm Hoa lớn tiếng nói:

– Chúng vị anh hùng, tại hạ xem xét binh thế quân Liêu, e rằng họ chưa chịu thua đâu, thể nào cũng truy kích, không biết các vị có cao kiến gì không?

Quần hùng đồng thanh đáp ứng:

– Chúng tôi quyết cùng bọn Liêu binh một trận sống mái, há lại sợ chúng hay sao?

Phạm Hoa nói:

– Bên địch nhiều, bên ta ít, giao phong trên đồng bằng chúng ta quả thật bất lợi. Chúng ta nên lui về hướng tây, một là gần với nơi quân Tống trú đóng, có gì tiếp ứng lẫn nhau, hai nữa quân địch đuổi càng xa nhân số càng giảm đi, chúng ta có thể thừa cơ phản kích.

Quần hào ai nấy khen phải. Sau đó Hư Trúc dẫn bộ thuộc cung Linh Thứu đi thành một toán, Đoàn Dự dẫn binh mã Đại Lý đi một toán khác, còn Huyền Độ dẫn quần hào Trung Nguyên thành toán thứ ba, còn Tiêu Phong cùng bang chúng Cái Bang đoạn hậu. Bốn lộ nhân mã, mỗi đoàn cách nhau chừng vài ba dặm, thám tử cưỡi ngựa chạy tới chạy lui truyền tin, nếu có quân địch sẽ cứu ứng lẫn nhau.

Đi suốt ngày hôm đó, buổi chiều ở nơi sơn dã nghỉ ngơi, Hư Trúc lo lắng, dẫn tứ nữ đến thăm hỏi Tiêu Phong, Đoàn Dự. Tiêu Phong cùng bọn Ngô Trường Phong Cái Bang cách biệt đã lâu, không muốn rời xa, ngồi lại ở phía sau Tiêu Phong, mặc dù không nói câu nào nhưng nhìn vẻ mặt ai ai cũng thấy trong lòng rất là hoan hỉ.

Tiêu Phong chợt hỏi:

– Ngô trưởng lão, Du Thản Chi không còn được xem như người trong Cái Bang, có phải không?

Ngô trưởng lão vội đứng dậy, cung kính nói:

– Bẩm báo bang chủ, chúng ta đã đuổi tên tiểu tử đầu sắt đi rất xa, không giết hắn, xem như đó là vận khí của hắn.

Tiêu Phong thở dài:

– Trường Phong, ta đã không phải bang chủ Cái Bang. Bất quá ngươi vẫn là hảo huynh đệ của ta.

Ngô Trường Phong quỳ xuống đất, nói:

– Bang chủ, lão nhân gia nếu không tha thứ cho chúng ta, không đến làm bang chủ của chúng ta, tiểu nhân thà rằng rời khỏi Cái Bang, đi làm du hồn dã quỷ.

Tiêu Phong nói:

– Không phải ta không chịu, xác thực ta là người Khất Đan. Bất luận các ngươi tôn ai làm bang chủ, Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng này ta không truyền cho y không được.

Ông trầm ngâm sau một lúc lâu, kêu lên:

– Nhị đệ! Hư trúc đáp:

Tiêu Phong nói:

– Ta và đệ kết nghĩa kim lan, ta rất vui mừng, thật là đại ca chẳng có gì hay để cho đệ, lại muốn đệ làm một việc khó khăn.

Hư trúc nói:

– Đại ca cứ việc phân phó, chỉ cần tiểu đệ đủ khả năng, nói cái gì cũng làm được cho huynh.

Tiêu Phong nói:

– Vậy thì đa tạ. Ta là người Khất Đan, Cái Bang là bang phái Đại Tống, ta là không thể trở lại làm bang chủ.

Hư trúc âm thầm kêu khổ, thầm nghĩ: “Hay là đại ca phải bảo ta làm khiếu hóa đầu? Lại muốn cái mạng nhỏ của ta rồi. Nhưng tôi đã đồng ý trước, không thể thoái thác được, phải làm thế nào cho phải?”. Lại nghe Tiêu Phong nói:

– Cái Bang nếu muốn đưa một vị anh hùng lên làm bang chủ, trong khoảng thời gian ngắn chưa chắc có thể tìm được nhân tài thích hợp, theo quy củ tổ truyền, bang chủ Cái Bang phải biết được hai môn công phu Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng. Nhị đệ, ta muốn phiền đệ học trước, ngày sau truyền lại cho bang chủ kế nhiệm. Muốn học hai môn công phu này, phải võ công tinh thục, ngộ tính rất mạnh. Tam đệ không thích học võ, nhìn quanh rất nhiều bằng hữu ở đây, chỉ có đệ thích hợp nhất.

Hư trúc vừa nghe mừng rỡ, nghĩ rằng chỉ cần không phải bảo mình đi làm bang chủ Cái Bang, học hai môn võ công, có gì là khó? Ngày đó bị Đồng Mỗ bức bách, chẳng biết đã học nhiều ít võ công, lại học vài môn, liền vui vẻ đồng ý, nói:

– Đại ca, mời ca ca chỉ điểm, huynh đệ nhất định không phụ sự nhờ vả, từ đầu đến cuối truyền lại cho bang chủ sau này.

Mọi người thấy Tiêu Phong phải truyền công cho Hư Trúc, lúc này đều cáo lui. Tiêu Phong lấy Đả Cầu Bổng đến, đem yếu quyết bổng pháp nói cho y nghe. Hư Trúc trí nhớ rất tốt, lại hiểu nhanh, đã có căn cơ Tiểu Vô Tướng Công, Đả Cẩu Bổng Pháp tuy khó, nhưng cũng không bằng Thiên Sơn Chiết Mai Thủ, Thiên Sơn Lục Dương Chưởng mấy môn võ công cao thâm. Hư Trúc không hiểu chỗ nào thì hỏi lại, rồi cầm lấy trúc bổng diễn thử, Tiêu Phong truyền dạy một lúc lâu, Hư Trúc cũng lĩnh hội xong.

Tiêu Phong tiếp theo truyền lại Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng, đây là một môn võ học cao thâm, không phải chí cương, cũng không phải chí nhu, kiêm đủ triết lí của Nho gia và Đạo gia. Hư trúc ngày trước học võ công Thiếu Lâm lấy dương cương là chủ, công phu phái Tiêu Dao thiên về lấy nhu thắng cương, hai đằng dung hợp, thật là không dễ. Tiêu Phong kiên nhẫn giải thích, nói đến chưởng thứ mười tám chưởng thì trời đã sáng.

Tiêu Phong nói:

– Nhị đệ, đệ cho dù vốn không có võ công, chỉ cần học mười tám chưởng này cũng đủ có thể tranh hùng cùng anh hùng. Mười chưởng phía sau, biến hóa phiền phức, uy lực lại không bằng mười tám chưởng đầu. Ngày thường ta suy nghĩ, cảm thấy mười chưởng cuối cùng này dường như hơi thừa, những chỗ tinh diệu của nó đã bao hàm hết trong mười tám chưởng trước. Chỉ vì Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng là do ân sư của ta Uông Kiếm Thông truyền lại, mà đã truyền lại trong Cái Bang hơn một trăm năm, ta không tiện tự ý tiêu giảm. Tinh yếu của Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng chính là bốn chữ “Hữu dư bất tận”, một chưởng xuất ra, phải có dư lực.

Mặc kệ quyền chưởng đối phương đánh tới cương mãnh, dữ dội như thế nào, ta rốt

cuộc ứng lại một chiêu dư lực. Khi sử Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng, trong lòng luôn phải nghĩ đến: đối phương độc long có tám mươi con, một trăm con, hàng phục một con lại có một con, hết mười con, lại có hai mươi con, vì vậy mà chưởng lực của ta thủy chung vô tận vô lậu, vĩnh viễn bất bại.

Hư trúc vui vẻ nói:

– Đa tạ đại ca chỉ điểm. Kỳ thật chiêu Kháng Long Hữu Hối, đại ca nói phải đánh địch ba phần, lưu lực bảy phần, đúng là chỗ tinh yếu trong Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng.

Tiêu Phong vỗ tay hoan nghênh nói:

– Đúng, đúng! Sau này có thời gian, chúng ta lại nghiên cứu thảo luận. Ta xem võ công Linh Thứu Cung của nhị đệ, cũng có nhiều chỗ phải tham khảo. Hiền đệ, ngươi là đại ân nhân của Cái Bang, ngày sau lúc tuyển định bang chủ, nhân phẩm tài cán của người đó, hiền đệ bên ngoài khách quan hơn, cũng muốn xin đệ có chút chủ ý.

Hư Trúc gật đầu đáp ứng. Sau nhiều năm, trong Cái Bang xuất hiện một vị thiếu niên anh hùng, tính tình vững vàng, tài giỏi, nhân duyên rất tốt, đàn cái bàn luận, tôn làm bang chủ. Mọi người tôn trọng nguyên ý của Tiêu Phong, đưa người này đến Linh Thứu Cung, được Hư Trúc kiểm tra tán thành, liền truyền cho y Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Thập Bát Chưởng. Bang chủ thiếu niên này không phụ sự nhờ vả, học được thần công, lại đem chỉnh đốn Cái Bang ngày càng đi lên, rốt cuộc phục hưng lại, Cái Bang từ đó liền coi Linh Thứu Cung là ân nhân. Hai môn võ công tổ truyền của Cái Bang, tuy nói Hàng Long Thập Bát Chưởng thiếu mười chưởng, nhưng được Tiêu Phong và Hư Trúc hai vị đại cao thủ lược bỏ chỗ trùng lặp, lại thêm chỗ tinh yếu, uy lực không kém gì hai mươi tám chưởng ban đầu, lại có chỗ còn hơn, trở thành môn võ công cao minh uy chấn trong chốn võ lâm thiên hạ.

Sáng sớm hôm sau, Tiêu Phong và Hư Trúc không nghỉ ngơi cùng mọi người lại lên đường, Tiêu Phong hỏi A Tử:

– Vị Du quân kia có còn ở cung Linh Thứu nữa hay không? A Tử bĩu môi nói:

– Ai mà biết? Chắc là còn, y mù hai mắt, làm sao xuống núi được?

Nghe giọng nàng dường như chẳng hề quan tâm đến y. Đêm hôm đó, Tiêu Phong cùng quần hùng Cái Bang quần hùng tá túc ở một bãi đất rộng, Tiêu Phong đặt A Tử ngủ bên cạnh mình, đắp cho nàng cái chăn, mi mắt A Tử vẫn tươi cười, ngủ ấm áp thật là thoải mái. Tiêu Phong tiếp tục giải thích những chỗ tinh yếu trong Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Thập Bát Chưởng cho Hư Trúc. Đoàn Dự không muốn rời xa huynh trưởng kết nghĩa, cũng ở đây gặp nhau.

Đang lúc nói chuyện, chỉ thấy trên sơn đạo bốn nữ tử bước nhanh đến, đúng là Mai Lan Trúc Cúc Tứ Kiếm. Tứ nữ đi đến trước mặt Hư Trúc, Mai Kiếm bẩm:

– Chủ nhân, chúa mẫu nương nương nói muốn tới bái kiến nghĩa huynh, nghĩa đệ, xin ngài cho phép.

Nguyên là Hư Trúc suất lĩnh hảo thủ chín bộ Cửu Thiên cung Linh Thứu, cùng với thủ hạ ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo đến Liêu quốc cứu Tiêu Phong, Ngân Xuyên công chúa lo lắng cho an nguy của trượng phu, khăng khăng đi cùng, Mai Lan Trúc Cúc Tứ Kiếm theo hộ vệ bên Ngân Xuyên công chúa.

Hư trúc cười nói:

– Tốt lắm, tốt lắm! Ta tự mình đi dẫn nàng tới đây, huynh đệ mình sớm nên gặp nhau, mấy ngày nay bận bịu truyền công, lại quên mất cái chuyện này.

Liền theo đường cũ của tứ nữ bước nhanh chạy đi. Tiêu Phong cười nói:

– Hai vợ chồng nhị đệ thật là khách sáo. A tử cũng cười nói:

– Tiểu hòa thượng cùng lão bà đúng là tương kính như khách!

Chỉ thấy Hư Trúc đưa một chiếc xe lừa đến, trong xe bước ra một cung nữ áo lục, Đoàn Dự nhận ra đó là ở cung nữ thập phần e thẹn đón tiếp tân khách ở hoàng cung Tây Hạ. Nàng lấy ra một cái ghế trải gấm màu hồng đặt ở trước xe. Chỉ nghe trong xe có tiếng ngọc bội, bước ra một người ăn mặc lộng lẫy, đeo màng che mặt đúng là quý phu nhân, hướng Tiêu Phong, Đoàn Dự nhẹ nhàng bái lạy, nói:

– Tiểu muội Tây Hạ Lý thị, bái kiến đại ca, tam đệ.

Tiêu Phong cùng Đoàn Dự vội quỳ xuống hoàn lễ, liền nói:

– Không dám nhận, Nhị tẩu xin đứng lên.

Quý phu nhân đứng dậy, cung nữ đi theo lấy chiếc ghế gấm đặt xuống, phu nhân lại xoay người hành lễ, lúc này mới ngồi xuống, chân thành nói:

– Lúc trước nhờ có đại ca, tam đệ giá lâm Hưng Châu, mang phu lang ta đến cầu thân, kết được lương duyên, tiểu muội vô cùng cảm kích.

Tiêu Phong nói:

– Nhị đệ muội không cần đa lễ. Lần này muội cùng nhị đệ đến Nam Kinh, cứu ta thoát hiểm, ta càng thập phần cảm kích. Chúng ta là huynh đệ cốt nhục, mặc kệ là ai giúp ai cũng là nên làm.

Quý phu nhân nhân nói:

– Đại ca nói rất hào sảng, mọi thứ đúng là phải vậy. Tiểu muội họ Lý, khuê danh là Thanh Lộ. Mọi người đều là người một nhà, phải nói cho đại ca cùng tam đệ hiểu. Lúc nào mời đại ca, tam đệ đến Linh Thứu Cung uống rượu ba ngày ba đêm, tiểu muội sẽ rót rượu mời đại ca, tam đệ, khi đó tự nhiên sẽ bỏ màng che mặt gặp nhau. Lúc này nhiều người, tiểu muội mặt non, sợ gặp người lạ, xin thứ cho không bỏ màng che mặt.

A tử cướp nói:

– Nhị tẩu, tới Linh Thứu Cung rồi, nhị tẩu bỏ màng che mặt, ta cũng muốn xem mặt. Mọi người đều nói tỉ tỉ xinh đẹp, thiên hạ vô song, trên đời cũng chỉ có một mình tiểu hòa thượng nhìn thấy, thật đáng tiếc!

Lý Thanh Lộ mỉm cười nói:

– Tôi còn xa mới đẹp bằng muội tử, muội mới thực là xinh đẹp đâu. A tử mếu máo nói:

Lý Thanh Lộ quay đầu hướng Đoàn Dự nói:

– Tam đệ, nhị ca đệ nói, y từng đồng ý với lệnh tôn đại nhân, giúp ngươi đến Tây Hạ cầu thân, nhưng mà y với ta lúc trước vốn là quen biết, đó là nhân duyên đã định, đệ dù nghĩ đến cái tình kết nghĩa, không hề trách móc, nhưng y rốt cuộc vẫn cảm thấy bất an. Tam đệ, nghe nói đệ có ý trung nhân là Vương cô nương, tài mạo hơn ta thập bội. Vị Vương cô nương này nói ra chính là biểu muội của ta.

Đoàn Dự thở thật dài, nói:

– Trên đời này, mọi thứ thân thích đều đập vào một chỗ rồi! Vương cô nương là con gái của phụ thân đệ, là muội tử của đệ, cũng giống như A Tử.

A Tử cười nói:

– Tiểu ca ca, may là ta không yêu ca ca, ca ca cũng không yêu ta! Lý Thanh Lộ nói:

– Chúng ta vốn là bạt nhân Tiên Ti, nguyên là họ Nguyên, họ Lý là được hoàng đế đời Đường ban thưởng họ, lại tới triều Tống, lại ban thưởng họ Triệu. Bởi vậy ông nội, bà nội ta tuy rằng đều họ Lý, lại có thể kết hôn. Tam đệ, bên cạnh đệ không có người hầu hạ thích hợp, ta với nhị ca ngươi bàn bạc, ta có một tiểu cung nữ, tên là Hiểu Lôi.

Nói xong vươn bàn tay nhỏ và trắng nõn, chỉ sang cung nữ áo lục, lại nói:

– Từ nhỏ theo hầu hạ ta, cầm kỳ thư họa đều biết, cũng biết một chút võ công. Nàng tính tình ôn nhu hiền tuệ, trung thành tin cậy, ta luôn coi nàng như muội tử của mình, về sau nàng sẽ đi theo đệ.

Hiểu Lôi mới nghe được một nửa, mặt đã đỏ bừng, nhấc ống tay áo lên che mặt. Đoàn Dự quỳ gối dập đầu, nói:

– Đa tạ nhị ca, nhị tẩu, chỉ không biết Hiểu Lôi cô nương có cam lòng từ biệt hai người?

Lý Thanh Lộ nói:

– Tam đệ mau đứng dậy. Chúng ta chỉ muốn nàng báo đáp đệ, nếu không trong lòng không yên được.

Đoàn Dự nói:

– Hiểu lôi cô nương nếu đồng ý, nguyện theo ta đến Đại Lý, đệ liền phong nàng làm quận chúa nương nương, cũng là muội tử của đệ.

Lý Thanh Lộ cười nói:

– Hiểu Lôi là cho ngươi làm phi tử, đệ chẳng lẽ không cần? Đoàn Dự cười nói:

– Nếu có thể làm phi tử, đệ đương nhiên cầu còn không được, nhưng dù sao nàng vẫn phải thật tâm đồng ý mới được. Nếu nàng tìm được trong nước Đại Lý một vị vương công quý quan, thiếu niên anh hùng, đệ liền chiêu y làm quận mã, không cần hỏi ba cái vấn đề, cho bọn họ bái thiên, bái địa, bái ca ca, lập tức thành thân.

Lý Thanh Lộ biết chàng nói đến chuyện cũ ngày xưa hỏi ba câu, mặt cũng đỏ lên, cười nói:

– Hiểu Lôi, người ca ca này, nhân phẩm anh tuấn tiêu sái, tính cách văn nhã hoà thuận, sau này ngươi toàn tâm toàn ý theo y đi.

Hiểu Lôi cúi đầu xuống, nói:

– Công chúa, người đối đãi với tôi ân trọng như núi, người bảo tôi làm cái gì thì tôi làm cái đó.

Lý Thanh Lộ cười dài nhìn hai người, chợt nhớ tới một chuyện, cúi người đến bên tai Hư Trúc, thấp giọng nói nói mấy câu. Hư trúc liên tục gật đầu, nói:

– Tốt lắm, tốt lắm! Không biết các nàng có chịu hay không? Lý Thanh Lộ nói:

– Chủ nhân có mệnh, các nàng không nghe sao? Hư Trúc gật gật đầu, nói:

– Mai Lan Trúc Cúc bốn vị tỉ tỉ, các ngươi từ trước hầu hạ Đồng Mỗ, có công lao rất lớn, về sau lại hầu hạ ta, bất quá trước kia ta là một tiểu hòa thượng, hiện nay ta đã có lão bà. Trong Linh Thứu Cung, trừ ta ra, từ trên xuống dưới nếu không phải lão bà thì là tiểu cô nương, các ngươi tuổi càng lớn, tương lai dù sao cũng phải có một phu lang tương xứng.

Tứ nữ cùng kêu lên cười nói:

– Chủ nhân, bốn tỉ muội chúng ta đều gả cho chủ nhân làm tiểu lão bà đi! Hư Trúc vội liên tục xua tay, nói:

– Không thể nào, không thể nào! Nhân quý tri túc, không thể vọng khởi tham niệm. Tham, sân, si là tam độc, tham là đứng đầu tam độc, cần phải trừ đi. Ta sớm đã có lão bà nhân gian đệ nhất, thế thượng vô song, quyết không thể lấy người thứ hai.

Tứ nữ cùng nói:

– Chủ nhân, chúng ta đây làm sao bây giờ? Kệ đế kệ đế, ba la tăng kệ đế! A di đà phật!

Đám người Tiêu Phong thấy tứ nữ bướng bỉnh, Hư Trúc không có cách nào quản trì, tất cả đều buồn cười. Lý Thanh Lộ nói:

– Tứ nữ, không được vô lễ với chủ nhân!

Tứ nữ vừa nghe thấy liền không dám la lối nữa, cùng đáp:

Lý Thanh Lộ nói:

– Ta và chủ nhân các ngươi đã bàn bạc, quyết định đem các ngươi tặng cho Đoàn tam ca, y nếu như thích các ngươi xinh đẹp đáng yêu, liền một hai ba bốn, phong các ngươi làm bốn vị tần phi nương nương, nếu y chán ghét các ngươi bướng bỉnh hồ nháo, liền một hai ba bốn, đem các ngươi bắt giam vào thiên lao, giam các ngươi mười bảy, hai tám năm mới thả ra!

Đoàn Dự vội hỏi:

– Này… này bốn vị cô nương hồn nhiên ngây thơ, thiên lao là quyết không nỡ bắt giam các cô, tần phi cũng không dám phong, ta liền một hai ba bốn, phong các nàng làm bốn vị quận chúa nương nương. Mai quận chúa, Lan quận chúa, Trúc quận chúa, Cúc quận chúa, đến ngày nào đó các ngươi muốn lấy chồng, chỉ cần nói với ta một tiếng, ca ca sẽ tức khắc dùng bồ câu đưa tin, đưa tới Phiếu Miểu Phong Linh Thứu Cung, thỉnh nhị ca nhị tẩu định đoạt, hai vị nếu như nói “tốt lắm”, huynh đệ sẽ chuẩn bị đồ cưới, kèo sáo đưa các nàng thành thân.

Hư Trúc cùng Lý Thanh Lộ chưa trả lời, tứ nữ đã đồng thanh nói:

– Hoàng Thượng ca ca, ngươi đã nói quyết không bắt giam chúng ta vào thiên lao, có phải không?

Đoàn Dự nói:

– Đúng vậy.

– Quân vô hí ngôn?

Đoàn Dự xòe bàn tay ra, nói:

– Nhất ngôn vi định.

Mai kiếm đi qua, bàn tay vỗ mạnh, nói:

– Chúng ta đối với ngươi vĩnh viễn một dạ trung thành. Lan kiếm vỗ tay, nói:

– Thiên thu vạn tái, trung với bệ hạ… ca ca.

Trúc kiếm cùng Cúc kiếm cũng vỗ tay hoan nghênh, một nàng nói:

– Chỉ có hồ nháo nho nhỏ! Một nàng nói:

– Quyết không vi chỉ phạm pháp!

Đám người Tiêu Phong thấy Đoàn Dự lại thu được bốn nghĩa muội, cùng cười dài, đồng loạt vỗ tay ăn mừng. Tứ nữ hi hi ha ha địa vây quanh bên người Đoàn Dự nói hươu nói vượn, lại kéo Hiểu Lôi lại, Hiểu Lôi mặt đỏ lên, chỉ mỉm cười.

Đoàn Dự thấy Hư Trúc mặc dù mỹ mãn nhân duyên, thần sắc lại đang buồn bã, liền đi đến gần, nói:

– Nhị ca, đa tạ huynh tặng năm vị muội tử xinh đẹp đáng yêu cho ta. Huynh lấy được nhị tẩu thế thượng vô song, nhân gian đệ nhất, sao vẫn không vui, là huynh đau lòng vì cha mẹ tạ thế hay sao?

Hư trúc nói:

– Sắc vô thường, có sinh tất có tử. Cha mẹ qua đời, ta mặc dù thương tâm, cũng không luẩn quẩn mãi trong lòng. Trong lòng ta không vui là bởi vì chung quy không thể nào làm một hòa thượng.

Đoàn Dự nói:

– Nhị ca, tu vi Phật pháp của ta thua xa huynh. Ta nói một đoạn đại thừa kinh Duy Ma Cật Thuyết Thuyết Kinh, mời huynh chỉ giáo: Phật Như Lai biết Duy Ma Cật sinh bệnh, phái nhi tử La Hầu La đi tham bệnh. La Hầu La nói mình không xứng đi, bởi vì là con của Thích Ca Mâu Ni, vốn nên kế nghiệp làm quốc vương, nhưng y bỏ qua vương vị mà xuất gia làm tăng, có người hỏi y là vì nguyên nhân gì, y liền giảng giải lợi ích cùng công đức khi xuất gia. Duy Ma Cật cho rằng hắn nói không được đúng, bởi vì trong phạm vi hữu vi pháp, có thể phân biệt hữu lợi vô lợi, hữu công đức vô công đức, nhưng xuất gia thuộc loại vô vi pháp. Duy Ma Cật Thuyết Thuyết Kinh có nói: thì Duy Ma Cật nói lại: “Vâng, La Hầu La, vì sao không nói những lợi ích, công đức của người tại gia? Vô lợi vô công đức, là xuất gia. Người hữu vi pháp, có thể nói hữu lợi hữu công đức. Phu xuất gia giả, vi vô vi pháp. Vô vi pháp trung, vô lợi vô công đức. La Hầu La, xuất gia giả, vô bỉ vô này, diệc vô trung gian…”

Nhị ca, Duy Ma Cật cư sĩ là đại cư sĩ không xuất gia, hắn chuyền cần tu Phật đạo, so với Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Ma Ha Già Chiên Diên, A Na Luật, Ưu Ba Li, A Nan, Đại Già Diệp Thập đại đệ tử của Phật Như Lai, đối chính pháp càng thêm hiểu rõ, Như Lai phật cũng cho rằng như thế. Thập đại đệ tử mỗi người đối hắn đều thập phần bội phục, La Hầu La nói: Duy Ma Cật nói: Đúng! Nhữ đẳng tiện phát A nậu Đa la Tam miểu Tam bồ đề tâm, là tức xuất gia, là tức đủ chừng.

Hư Trúc trầm tư một lát, nói:

– Tam đệ nói đúng, chỉ cần tâm tồn phật giáo, ngưỡng mộ tử hình, phát A nậu Đa la Tam miểu Tam bồ đề tâm, tức là xuất gia, tức là đủ chừng! Tu tập phật pháp, tu làm viên dung. Không cần câu nệ, chính là đại bệnh trời sinh!

Nói xong thần tình hoan hỉ, hướng Đoàn Dự quỳ gối. Đoàn Dự vội quỳ xuống hoàn lễ. Cúc kiếm vỗ tay cười nói: “Ha ha, Hoàng Thượng ca ca của chúng ta so với tiểu hòa thượng thì đúng là lão hòa thượng.

Lý Thanh Lộ liếc các nàng, trách mắng:

– Không được nói bậy!

Cúc kiếm cùng Mai Lan Trúc Tam Kiếm đồng loạt lè lưỡi, không dám nói nữa. Lập tức Lý Thanh Lộ cùng Tiêu Phong, Đoàn Dự cáo biệt, lên xe lui về, cùng chư nữ chín bộ Cửu Thiên Linh Thứu Cung tương tụ. Hiểu Lôi cùng Tứ Kiếm bên cạnh xe hộ tống.

Hôm đó cả bọn đến Linh Khưu Úy Châu, đào hố nấu cơm. Đi đến đâu Phạm Hoa cũng cắt đặt người mai phục khắp nơi, chặt cầu ngăn đường, để kéo dài thì giờ Liêu binh truy kích. Đến ngày thứ ba, bỗng thấy phía đông khói phân sói bay thẳng vút lên, chính là tín hiệu quân Liêu đang đuổi theo. Quần hào ai nấy giật mình, những hào kiệt trẻ tuổi đã toan quay lại trợ giúp những tiểu đội mai phục dọc đường, nhưng bị Huyền Độ, Phạm Hoa ngăn trở.

Đến chiều hôm đó, quần hào nghỉ lại một triền núi. Ngủ đến nửa đêm, bỗng có

người kinh hoàng kêu lên khiến ai nấy tỉnh dậy, thấy phương bắc đỏ rực cả một góc. Tiêu Phong và Phạm Hoa hai người nhìn nhau, trong bụng thầm biết hẳn là có chuyện chẳng lành. Phạm Hoa nói nhỏ:

– Tiêu đại vương nghĩ có phải quân Liêu đi vòng qua giáp công chăng? Tiêu Phong gật đầu. Phạm Hoa nói:

– Lửa lớn thế, không biết đốt mất bao nhiêu nhà của dân chúng? Than ôi!

Tiêu Phong không muốn kể xấu Gia Luật Hồng Cơ nhưng biết ngay lần này bị thua dưới tay người Nữ Chân, bao nhiêu tức tối trong lòng trút lên đầu bách tính, trên đường tiến quân tây chinh, gặp ai giết nấy, nhà cửa đốt sạch.

Lửa cháy mãi tới khi trời sáng cũng chưa tắt. Đến trưa hôm đó, phương nam cũng có lửa bốc lên, dưới ánh nắng chang chang không thấy lửa mà chỉ thấy khói mù mịt bốc lên tận mây. Đoàn của Huyền Độ vốn dĩ đi đầu thấy phương nam lửa bốc cao như thế liền gò cương đứng lại bên đường đợi Tiêu Phong tới nơi bèn hỏi:

– Kiều bang chủ, quân Liêu chia ba mặt tấn công, Nhạn Môn Quan liệu có giữ nổi không? Ta đã liên tiếp sai người chạy đến báo tin nhưng thống soái giữ ải nhu nhược, không dám phát binh sợ không chống nổi thiết kỵ Liêu binh.

Tiêu Phong không biết phải trả lời thế nào, Huyền Độ lại tiếp:

– Xem ra chỉ có người Nữ Chân là có thể chống lại quân Liêu, trong tương lai nếu như Đại Tống liên thủ với Nữ Chân, nam bắc giáp công thì may ra sẽ khiến cho thiết kỵ Khất Đan không tiến xuống nam thôi.

Tiêu Phong hiểu ý ông ta muốn mình tìm cách liên lạc với thủ lãnh Nữ Chân nhưng nghĩ mình vốn là người Khất Đan, làm sao có thể cấu kết ngoại địch đánh lại nước mình. Ông đột nhiên nhớ ra hỏi lại:

– Huyền Độ đại sư, phụ thân tôi ở quý bảo sát có bình an không? Huyền Độ ngạc nhiên nói:

– Lệnh tôn quy y tam bảo, thanh tu ở hậu viện chùa Thiếu Lâm, trước khi đi Nam Kinh chúng tôi không gặp lệnh tôn để khỏi làm động lòng trần của người.

Tiêu Phong nói:

– Tại hạ quả là muốn gặp gia gia, hỏi ông một câu. Huyền Độ ồ lên một tiếng. Tiêu Phong nói:

– Tại hạ muốn thỉnh vấn lão nhân gia: Nếu như quân Liêu tiến đánh chùa Thiếu Lâm, thì phải xử trí thế nào?

Huyền Độ đáp:

– Thì phải hết sức kháng địch, hộ tự vệ pháp, còn gì khác nữa? Tiêu Phong nói:

– Thế nhưng cha tôi là người Khất Đan làm sao có thể bảo ông ta vì người Hán mà giết người Khất Đan cho được?

Huyền Độ trầm ngâm rồi nói:

– Bỏ chỗ tối ra chỗ sáng, quả là đáng kính đáng phục. Tiêu Phong nói:

– Đại sư là người Hán thì nói Hán là sáng, Khất Đan là tối. Thế nhưng người Khất Đan chúng tôi thì lại bảo Đại Liêu là sáng, Đại Tống là tối. Nghĩ đến tổ tông người Liêu chúng tôi bị người Yết tàn sát, bị người Tiên Ti hiếp đáp, chạy đông chạy tây, khổ không kể đâu cho hết. Thời nhà Đại Đường, võ công người Hán các ông cực thịnh, giết không biết bao nhiêu dũng sĩ Khất Đan, bắt bao nhiêu đàn bà con gái Khất Đan. Đến bây giờ người Hán võ công không được như cũ thì người Khất Đan lại quay trở lại tấn công người Hán. Cứ như thế giết qua giết lại không biết đến bao giờ mới thôi?

Huyền Độ lặng thinh, qua một lúc mới niệm:

– A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!

Đoàn Dự giục ngựa chạy đến, chỉ nghe được phần sau của câu chuyện giữa hai người bèn ngâm nga:

Lửa hồng kia chửa tắt, Chinh chiến hẳn chưa nguôi.

Tráng sĩ giờ đây đã thác rồi, Ngẩng đầu tiếng ngựa hí bi ai. Sĩ tốt phơi thây ngọn cỏ, Tướng quân trơ trọi một ngươi. Kên kên rỉa xác nơi đồng nội,

Cành khô vất vưởng ruột tanh hôi. Than ôi!

Xưa nay binh lửa là hung khí,

Thánh nhân chẳng đặng mới dùng thôi. Tiêu Phong khen ngợi:

Xưa nay binh lửa là hung khí,

Thánh nhân chẳng đặng mới dùng thôi.

– Hiền đệ, ngươi làm thơ hay thật. Đoàn Dự đáp:

– Không phải thơ đệ làm đâu, đó là của đại thi nhân Lý Bạch đời Đường đó. Tiêu Phong nói:

– Ta ở đây cũng nghe người trong bộ tộc hát một khúc như vầy. Nói xong ông cao giọng hát:

Núi Kỳ Liên đã mất rồi,

Trâu bò gia súc mệt nhoài kiếm ăn. Gò Yên Chi cũng mất tăm,

Đàn bà con gái hom hem gầy mòn.

Ông trung khí sung túc, tiếng hát vang vang mãi tận xa nhưng giọng đầy vẻ thê lương. Đoàn Dự gật đầu:

– Đó là điệu hát của người Hung Nô. Năm xưa Hán Võ Đế chinh phạt Hung Nô, cướp mất một phần lớn đất đai của họ, người Hung Nô khốn khổ đáng thương, chắc hẳn tiếng hát vẫn còn truyền đến tận ngày nay.

Tiêu Phong đáp:

– Tổ tiên người Khất Đan chúng ta thời đó đồng tộc với người Hung Nô, cũng khổ chẳng khác gì người Hung Nô.

Huyền Độ thở dài một tiếng nói:

– Chỉ khi nào tất cả vua chúa tướng lãnh trong thiên hạ đều sùng tín Phật pháp, giữ lòng từ bi thì lúc đó mới hết được cái thảm cảnh chiến tranh.

Tiêu Phong đáp:

– Không biết đến năm nào tháng nào mới có được một thế giới thái bình như thế. Cả đoàn người tiếp tục đi về hướng tây, thấy ba phía đông nam bắc chỗ nào cũng lửa đỏ rực, suốt đêm chưa tắt, quân Liêu vẫn đốt phá chém giết đuổi theo. Quần hùng trong dạ ai ai cũng phẫn nộ, luôn mồm chửi rủa, nguyện cùng quân địch một trận tử chiến. Phạm Hoa nói:

– Quân Liêu càng đuổi càng gần, cuối cùng rồi mình sẽ vào cảnh lui cũng không xong. Theo ý kiến của huynh đệ, chi bằng chúng ta phân tán ra khắp nơi khiến bọn chúng không biết hướng nào mà đuổi.

Ngô Trường Phong lớn tiếng nói:

– Thế thì có khác gì chịu thua? Phạm tư mã, ông chớ có làm tăng khí thế địch mà làm giảm uy phong mình, thắng cũng được mà thua cũng được, nhất quyết phải cùng bọn Liêu cẩu kia một mất một còn.

Còn đang nói chuyện đột nhiên nghe vút một tiếng, một mũi vũ tiễn từ góc đông nam bắn tới, một bang chúng Cái Bang trúng tên ngã xuống, kế đó từ sau núi một đội Liêu binh hò hét xông ra. Toán quân đột kích đó vượt qua những người đoạn hậu, chạy một mạch theo đường tắt tấn công ngang hông. Ngô Trường Phong gào lên:

Y xông lên trước tiên. Quần hùng ai nấy hết sức chiến đấu, người đã đông hơn lại ai nấy võ nghệ cao cường, vừa la hét vừa chém giết thế như chặt dưa tàn sát quân Liêu, chỉ chừng nửa giờ hơn năm trăm lính Liêu đã bị giết không còn một mống. Độ hơn chục tên trèo núi bỏ trốn nhưng đều bị những hào kiệt khinh công cao cường đuổi theo giết nốt.

Quần hào đánh thắng một trận, reo hò vang dội, tinh thần phấn chấn. Phạm Hoa len lén thương nghị với Huyền Độ, Hư Trúc, Đoàn Dự:

– Chúng ta chỉ mới thắng được một đội nhỏ quân Liêu, một trận đánh rồi, đại quân Liêu sẽ đến ngay, mình mau chạy về hướng tây.

Nói chưa dứt lời đã nghe phía đông có tiếng ầm ầm vọng đến. Quần hào cùng quay sang thấy bụi bay mù mịt như một đám mây đang bốc lên che cả bầu trời. Chỉ trong khoảnh khắc, ai nấy mặt mày bần thần, không nói năng gì nữa, nghe tiếng rầm rầm chẳng khác gì sấm động truyền từ xa, hiển nhiên đại đội binh mã đang kéo tới, không biết bao nhiêu vạn người.

Quần hào đã từng chứng kiến chém giết nhiều lần nhưng đại quân tiến như thế này thì chưa từng nghe, so với cuộc chiến ngoài thành Nam Kinh quân Liêu đông không biết gấp bao nhiêu lần. Ai nấy tuy đều là những tráng sĩ lớn mật nhưng thấy quân uy chấn động đất trời đều không khỏi khiếp vía, toát mồ hôi lạnh.

Phạm Hoa kêu lớn:

– Chúng vị huynh đệ, địch nhân thế lớn, chết chỉ uổng mạng. Núi xanh vẫn còn đó, Không sợ thiếu củi đun. Hôm nay chúng ta tạm nhường chúng rồi tìm cách phản kích sau.

Quần hào lập tức lên ngựa, chạy về hướng tây nhưng tiếng rầm rầm vẫn đuổi theo không ngớt. Tối hôm đó mọi người không nghỉ ngơi, mỗi lúc thấy một gần Nhạn Môn Quan nên càng ra roi, biết rằng nếu qua được cửa ải rồi, cố găng thủ ngự, quân địch tuy đông nhưng phá được cửa quan cũng không phải dễ.

Trên đường ngựa liên tiếp ngã lăn ra chết, người thì thi triển khinh công, kẻ thì hai người cưỡi chung một con. Chạy đến khi trời sáng thì chỉ còn cách Nhạn Môn Quan chừng mươi dặm, ai nấy lúc ấy mới yên tâm, xuống ngựa cầm cương chậm rãi đi bộ để cho con vật lấy lại sức. Thế nhưng tiếng rầm rầm của binh mã đuổi theo đằng sau thì vẫn còn, mỗi lúc một thêm vang dội.

Tiêu Phong xuống sườn núi bất chợt thấy một tảng đá lớn không khỏi giật mình nghĩ thầm: “Năm xưa Huyền Từ phương trượng, Uông bang chủ đã thống lãnh quần hào Trung Nguyên, phục kích cha ta, giết chết mẹ ta cùng không ít võ sĩ Khất Đan cũng là ở chỗ này”. Ông nghiêng đầu nhìn thấy tên vách núi vẫn còn dấu búa bạt chữ đi, chính là nơi Huyền Từ xóa bỏ tự tích của Tiêu Viễn Sơn.

Tiêu Phong chậm rãi quay đầu lại, thấy bên cạnh thạch bích có một cây hoa, tai còn văng vẳng nghe tiếng A Châu nấp sau cây này nói:

– Kiều đại gia, đại gia còn đánh nữa, chắc ngọn núi này cũng sẽ đổ mất thôi. Ông ngơ ngẩn, mấy câu nói nhu mì của A Châu vẫn còn vang vang trong đầu:

– Tiểu nữ… tiểu nữ ở đây chờ đại gia đã năm ngày năm đêm, chỉ sợ đại gia không đến. Đại gia… đại gia quả nhiên đến rồi, nhờ trời phù hộ nên đại gia vẫn khỏe mạnh bình thường.

Tiêu Phong nước mắt ròng ròng, đi đến bên cạnh, giơ tay xoa xoa thân cây thấy nay đã cao hơn khi ông gặp lại A Châu nhiều, nhất thời trong lòng thương cảm quên hết cả mọi sự chung quanh. Chợt nghe A Tử kêu lên:

– Tỉ phu! Mau chạy thôi! Chạy thôi!

A Tử chạy đến nắm áo Tiêu Phong. Tiêu Phong ngẩng đầu nhìn thấy ở xa xa đông nam bắc ba mặt trường mâu quân Liêu chĩa lên trời tua tủa như rừng, hiển nhiên đang vây mình lại. Tiêu Phong gật đầu nói:

– Được, mình lui vào trong Nhạn Môn Quan rồi tính sau.

Khi đó quần hào đã tụ tập ở trước cửa ải rồi. Tiêu Phong và A Tử cưỡi ngựa song song chạy đến nhưng cửa vẫn đóng chặt. Trên cửa quan một viên quan người Tống đứng trên đầu thành, lớn tiếng nói:

– Phụng mệnh Trương tướng quân chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan có ra lệnh rằng: Các ngươi nếu là bách tính Trung Nguyên thì được nhập quan nhưng không biết có cấu kết với quân Liêu làm gian tế hay không, thành thử các ngươi vứt binh khí xuống để tra xét từng người. Nếu trên người không có dấu quân khí, Trương tướng quân sẽ khai ân, để cho các ngươi vào trong ải.

Câu nói vừa dứt, quần hào liền nhao nhao lên. Có người nói:

– Bọn ta nghìn dặm bôn ba, hết sức chống với quân Liêu, sao lại nghi làm gian tế là thế nào?

Có người nói:

– Bọn ta mang theo binh khí là để giúp tướng quân kháng Liêu. Nếu như không có binh khí trong tay thì làm sao đánh với quân Liêu được?

Gặp người tính tình nóng nảy táo tợn liền chửi ngay:

– Mẹ ngươi chứ, không mở cho ông vào hả? Tất cả tấn công vào bây giờ. Huyền Độ vội vàng ngăn lại, quay sang gã quan quân nói:

– Phiền các hạ bẩm lại với Trương tướng quân: Chúng tôi đều là bách tính trung nghĩa của Đại Tống, lúc trước chúng ta đã sai người đến báo quân Liêu tấn công. Địch quân chớp mắt sẽ đến ngay, nếu còn tra xét thì sẽ mất thời giờ, khi đó cửa mở ra sẽ rất nguy hiểm.

Gã quan quân đã nghe có tiếng người chửi rủa, lại thấy quần hào không hiếm những người ăn mặc quái lạ, không giống nhân sĩ Trung Thổ bèn nói:

– Lão hòa thượng, ông bảo tất cả đều là lương dân Trung Thổ, ta xem nhiều người đâu phải dân Trung Quốc? Được rồi, ta mở cho một mặt lưới, người Đại Tống thì được vào ải, còn không phải dân Đại Tống thì không được vào.

Quần hào ngơ ngẩn nhìn nhau, ai nấy phẫn nộ. Bộ thuộc của Đoàn Dự là thần dân nước Đại Lý, còn bộ thuộc của Hư Trúc thì có đủ các bộ tộc, Tây Vực có, Tây Hạ có, Thổ Phồn có, Cao Ly có, nếu chỉ người Đại Tống mới được vào thì đại bộ phận của nước Đại Lý và cung Linh Thứu sẽ bị chặn lại. Huyền Độ nói:

– Tướng quân minh giám: Chúng tôi ở đây có rất nhiều đồng bạn, có kẻ là người Đại Lý, có kẻ là người Tây Hạ, tất cả liên thủ chống lại quân Liêu, đều là anh em cả, chứ đâu có phân biệt ai là người Tống, ai không?

Lần này Đoàn Dự dẫn bộ thuộc lên phương bắc giữ gìn cực kỳ bí mật, không tiết lộ mình là chủ một nước, để phòng đại thần Tống triều gia hại hay bắt giữ làm

con tin, vả lại Đại Lý và Liêu quốc hai bên cách nhau xa thật nhưng cũng không muốn công khai đối địch nên Huyền Độ không đề cập đến việc Đại Lý có một nhân vật cực trọng yếu nơi đây.

Gãn quan quân kia khinh khỉnh nói:

– Nhạn Môn Quan là yết hầu của Đại Tống, quan trọng là dường nào? Đại đội binh mã quân Liêu sẽ tới ngay, nếu như ta tùy tiện mở cửa quan, Liêu binh thừa cơ xông vào, đại họa tày trời này ai có thể chịu?

Ngô Trường Phong không còn nhịn nổi nữa, lớn tiếng quát nạt:

– Ngươi bớt la lối một câu, mau sớm mở cửa, có phải mọi sự xong xuôi hay không? Gã quan quân cáu tiết quát lại:

– Thằng ăn mày già kia, trước mặt bản quan, ai cho ngươi được mở mồm?

Y phất tay một cái, trên thành lập tức xuất hiện hơn nghìn cung thủ, cung tên giương sẵn, nhắm thẳng xuống dưới. Gã quan quân lại hét:

– Mau mau lui ra, các ngươi còn ở đây nói lời xằng bậy mê hoặc lòng người, nhiễu loạn lòng quân thì ta sẽ ra lệnh phát tiễn đó.

Huyền Độ thở dài một tiếng, không biết phải tính sao. Nhạn Môn Quan hai bên núi cao vút tận mây, cửa ải này có tên là Nhạn Môn, ý nói hồng nhạn khi bay về phương nam, cũng phải theo khe giữa hai ngọn núi mà bay đủ biết địa thế hiểm yếu dường nào. Quần hào tuy không hiếm kẻ khinh công cao cường có thể trèo non vượt lãnh nhưng phần đông không thể nào chạy được ắt sẽ bị quân Liêu giết chết. Chỉ thấy quân Liêu đi theo đường núi từ hai mặt đông tây càng lúc càng khép lại dần cùng theo chính diện tiến tới. Thế nhưng ngoài tiếng vó ngựa, tiếng giáp sắt, tiếng gió thổi không nghe một tiếng hò reo nào, quân kỷ quả thực nghiêm minh, đúng là một quân lữ tinh nhuệ. Từng đội quân Liêu xếp thành trận thế ép tới cửa ải, tới khi trong tầm bắn tên rồi liền dừng lại. Nhìn ra ba phía đông tây bắc chỗ nào cũng cờ quạt phất phới, nhân mã không biết là bao nhiêu mà kể. Tiêu Phong lớn tiếng nói:

– Các vị ở đâu tại đó không nên di động, chờ tại hạ phân giải với Liêu đế. Ông một mình một ngựa chạy lên. Hai tay ông giơ cao khỏi đầu, ý cho biết không có binh khí cung tên, sang sảng cất tiếng:

– Hoàng đế bệ hạ Đại Liêu, thần Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong có vài lời muốn tâu, xin bệ hạ ra mặt.

Mấy câu đó ông dùng nội lực truyền ra, thanh âm vang vọng tận xa, mấy vạn quân Liêu đều nghe rõ ràng không khỏi biến sắc. Một hồi sau, từ trong quân Liêu tiếng tù và vang dậy, thiên quân vạn mã tựa như sóng bể dạt sang hai bên, tám lá cờ vàng do tám kỵ sĩ từ trong trận cầm chạy ra phần phật tung bay trước gió. Phía sau là những đội quân cầm trường thương, đao phủ, cung tên, thuẫn bài chia thành hai đội, cuối cùng mới đến mười đại tướng mặc giáp sắt bảo vệ Gia Luật Hồng Cơ tiến ra khỏi trận.

Quân Liêu liền hô to:

– Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Tiếng hô vang dậy chấn động cả sơn cốc. Quân Tống trên ải thấy uy thế Liêu binh không khỏi bàng hoàng. Gia Luật Hồng Cơ tay cầm bảo đao giơ cao, quân Liêu lập tức im bặt, trừ tiếng ngựa hí, không còn một tiếng nào khác. Gia Luật Hồng Cơ hạ bảo đao xuống, cười ha hả nói:

– Tiêu đại vương, ngươi bảo sẽ dẫn quân Liêu nhập quan, sao cửa ải chưa thấy mở?

Lời vừa nói ra, trên ải lập tức có người thông dịch lại cho viên quan trấn thủ

nghe. Quan quân giữ thành lập tức huyên náo, chỉ mặt Tiêu Phong chửi bới ầm ĩ. Tiêu Phong biết là Gia Luật Hồng Cơ tính dùng kế ly gián, để quân Tống không mở cửa cho bên mình vào, trong lòng chua xót, lập tức nhảy xuống ngựa tiến lên mấy bước nói:

– Bệ hạ, Tiêu Phong này phụ bạc ân điển thâm hậu khiến cho hoàng thượng phải ngự giá thân chinh, quả là đáng chết.

Nói xong liền quỳ rạp xuống đất, bỗng có hai bóng người lao vụt tới nhanh như ánh chớp, xông thẳng vào Gia Luật Hồng Cơ, chính là Hư Trúc và Đoàn Dự. Hai người thấy tình thế có chiều bất lợi, biết rằng việc ngày hôm nay chỉ còn cách bắt lấy Liêu đế để uy hiếp thì mới mong bảo trì được đại cục, ra dấu cho nhau rồi chia hai bên tiến vào.

Khi Gia Luật Hồng Cơ ra trận đã hờm trước đề phòng Tiêu Phong lại giở lối cũ bắt sống cha con Sở vương năm nào. Chỉ huy sứ đội thân binh liền quát lên một tiếng, hơn ba trăm tên lính cầm khiên lập tức tụ lại xếp thành một bức tường, chắn ngay trước mặt vua Liêu. Lính cầm trường mâu, lính cầm đao phủ cũng đứng xếp hàng khít khao ngay trước mặt đội thuẫn bài.

Thế nhưng Hư Trúc không phải còn như ngày trước, nay đã được chân truyền của Thiên Sơn Đồng Mỗ, lại từng nghiên cứu tất cả các võ học bí áo trên vách đá Linh Thứu Cung, võ công cao siêu tới mức tùy tâm sở dục. Đoàn Dự thì sau khi hút được trọn vẹn công lực một đời của Cưu Ma Trí, nội lực thâm hậu, cũng vào loại chấn cổ thước kim, thi triển Lăng Ba Vi Bộ thì làm sao quân sĩ nước Liêu ngăn nổi?

Đoàn Dự chẳng khác gì con chạch lách đông lượn tây, lẻn qua đám lính cầm giáo cầm đao khít khao chỉ cách chưa đầy một thước. Bọn lính cầm mâu vì quá gần nên vướng lẫn nhau, đã không đâm trúng được Đoàn Dự lại người nọ đụng phải người kia.

Hư Trúc liên tiếp vươn tay, chộp ngực chộp lưng quân Liêu, ném ra bên ngoài, càng lúc càng xông vào gần Gia Luật Hồng Cơ. Hai viên đại tướng giục ngựa xông ra, mũi thương cùng đâm vào ngực Hư Trúc. Hư Trúc đột nhiên nhảy vọt lên, hai chân chia ra đá vào đầu hai mũi giáo. Hai viên tướng Liêu cùng quát lên, rung thương một cái định chấn động cho Hư Trúc rớt xuống. Hư Trúc liền mượn ngay sức bật của ngọn giáo, nhảy vọt lên thêm một lần nữa, từ trên không nhảy bổ xuống đầu Hồng Cơ.

Một người thì trơn tuột như cá lượn, một người thì vùn vụt như chim bay, cùng tấn công khiến Gia Luật Hồng Cơ hoảng hốt, vung bảo đao lên chém vào Hư Trúc đang còn ở trên không. Tay trái Hư Trúc lập tức vươn ra, chộp được sống đao, thừa thế đang rơi cuộn lại bắt luôn cổ tay Liêu đế. Ngay lúc đó Đoàn Dự cũng đã vượt qua được rừng người, xông vào nắm được vai Gia Luật Hồng Cơ. Hai người cùng quát:

Cả hai cùng đưa tay vật một cái đã lôi được thân thể cao to của y xuống khỏi lưng ngựa, quay đầu chạy ra. Quân Liêu bốn phía thấy hoàng đế bị bắt, kinh hãi la hoảng lên. Mấy chục thân binh liều mạng xông lên cứu chúa đều bị Hư Trúc đá văng ra xa.

Hai người bắt được Liêu đế rồi, trong bụng mừng rỡ đột nhiên thấy Tiêu Phong phi thân ra chặn lại, cùng kêu lên:

Ngờ đâu Tiêu Phong song chưởng đánh tới, vù vù hai tiếng chia ra tập kích hai

bên. Hai người kinh hãi, thấy chưởng lực đánh tới, đành phải giơ tay lên đỡ, bình bình bốn chưởng đụng nhau. Chưởng phong rung chuyển, Tiêu Phong tiến lên thừa thế nắm ngay Gia Luật Hồng Cơ.

Khi đó quân Liêu và quần hào Trung Thổ cũng đã từ hai bên ùa tới, một bên định cứu hoàng đế, một bên muốn tiếp ứng cho Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc.

Tiêu Phong quát lớn:

– Không ai được động đậy. Ta muốn nói chuyện với hoàng đế Đại Liêu.

Liêu quân và quần hào lập tức dừng lại, hai bên đứng xa xa hò hét không dám xung sát, cũng không ai dám buông tên. Hư Trúc và Đoàn Dự cũng đã lui ra ba bước, chia ra đứng sau lưng Gia Luật Hồng Cơ đề phòng y chạy trở về, đồng thời ngăn trở cao thủ Khất Đan xông lên cứu giá. Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ cầm trường kiếm đứng phía sau, chắn đich nhân bắn lén.

Gia Luật Hồng Cơ mặt cắt không còn giọt máu, nghĩ thầm: “Tiêu Phong này tính tình cực kỳ táo tợn, ta nhốt y vào chuồng sư tử, làm nhục y quá đỗi. Bây giờ rơi vào tay y rồi, chắc hẳn y sẽ báo thù không để cho ta sống sót”. Bỗng nghe Tiêu Phong nói:

– Bệ hạ, hai người này là anh em kết nghĩa của thần, không làm hại bệ hạ đâu, hoàng thượng cứ yên tâm.

Gia Luật Hồng Cơ hừ một tiếng quay lại nhìn Hư Trúc, rồi quay sang nhìn Đoàn Dự. Tiêu Phong tiếp:

– Nhị đệ của thần là Hư Trúc, chủ nhân cung Linh Thứu, còn tam đệ là Đoàn vương tử nước Đại Lý, vi thần đã từng tâu lên bệ hạ rồi.

Gia Luật Hồng Cơ gật đầu:

– Quả là giỏi thật.

Tiêu Phong nói:

– Chúng tôi sẽ thả bệ hạ về trận, chỉ mong bệ hạ ban thưởng cho.

Gia Luật Hồng Cơ tưởng chừng không tin vào tai mình nữa, nghĩ thầm: “Trên đời này sao lại có chuyện dễ dàng thế nhỉ? A, đúng rồi, Tiêu Phong đã hồi tâm chuyển ý, cầu ta phong cho ba người làm quan”. Y đổi mặt tươi cười nói:

– Các ngươi cầu khẩn chuyện gì, ta tự nhiên không gì không thuận.

Y vốn dĩ giọng nói run run nhưng hai câu này đã trở lại vẻ tôn nghiêm của một hoàng đế. Tiêu Phong nói:

– Bệ hạ đã là tù binh của hai vị huynh đệ, cứ theo quy củ của người Khất Đan chúng ta, bệ hạ phải lấy tài hóa đem ra chuộc.

Gia Luật Hồng Cơ nhíu mày:

– Các ngươi muốn gì?

Tiêu Phong đáp:

– Vi thần mạo muội thay hai vị huynh đệ mở lời, chỉ xin kim khẩu bệ hạ bằng lòng thôi.

Hồng Cơ cười ha hả nói:

– Trên cõi đời này, những gì ta kiếm không ra chắc cũng chẳng nhiều, con mãnh sư kia cứ việc nói ra đi.

Tiêu Phong cao giọng nói:

– Chỉ xin bệ hạ bằng lòng lập tức thoái binh, trong đời bệ hạ không để một tên quân, một tên lính vượt qua biên giới Liêu Tống.

Đoàn Dự nhất thời mừng rỡ, nghĩ thầm: “Liêu quân không vượt biên giới Tống Liêu thì đâu có thể chắp cánh mà bay sang xâm phạm Đại Lý mình được”. Chàng liền đáp ngay:

– Đúng thế, chỉ cần hoàng thượng đáp lời là chúng tôi sẽ thả về ngay.

Lại chợt nghĩ: “Bắt giữ hoàng đế nước Liêu, công lao nhị ca còn nhiều hơn ta, không biết y muốn gì?”. Đoàn Dự liền quay sang hỏi Hư Trúc:

– Nhị ca muốn hoàng đế Khất Đan chuộc thân bằng gì? Hư Trúc lắc đầu nói:

– Ta cũng chỉ muốn y bằng lòng điều đó thôi.

Khuôn mặt Gia Luật Hồng Cơ sầm xuống, trầm giọng hỏi:

– Các ngươi dám lớn mật uy hiếp ta sao? Nếu ta không bằng lòng thì thế nào? Tiêu Phong dõng dạc nói:

– Nếu thế thì thần xin được cùng bệ hạ đồng quy ư tận. Hai chúng ta năm xưa kết nghĩa đã từng có lời thề chỉ mong cùng năm, cùng tháng, cùng ngày chết chung với nhau.

Gia Luật Hồng Cơ chột dạ, nghĩ thầm: “Gã Tiêu Phong này không sợ trời, không sợ đất, là đồ vong mệnh, xưa nay nói một là một, hai là hai. Nếu như ta không chịu ắt thể nào cũng mạo phạm, chết dưới tay tên mãng phu này thì quả là uổng quá”. Y bèn cười ha hả lớn tiếng nói:

– Chỉ một mạng Gia Luật Hồng Cơ này mà đổi lấy mấy chục năm bình an của hai nước Tống Liêu. Hảo huynh đệ, ngươi coi mạng ta quả là đáng trọng.

Tiêu Phong đáp:

– Bệ hạ là chúa tể Đại Liêu, khắp thiên hạ còn gì quý trọng hơn được nữa? Gia Luật Hồng Cơ lại cười nói:

– Nếu nói thế, năm xưa người Nữ Chân đòi ta năm trăng lượng vàng, năm ngàn lượng bạc, ba nghìn tuấn mã thế là còn ít, phải không?

Tiêu Phong chỉ hơi khom lưng, không dám trả lời. Gia Luật Hồng Cơ quay đầu lại thấy tướng sĩ thủ hạ, kẻ gần nhất cũng phải cách mình đến hơn trăm bước, không cách nào có thể cứu mình thoát hiểm, tính toán hơn thiệt, trên đời này có gì quý hơn tính mạng, lập tức từ ống tên rút ra một mũi điêu vũ lang nha tiễn, hai tay bẻ gập lại, cắc một tiếng, gãy ra làm đôi, vứt xuống đất nói:

– Ta bằng lòng đó!

Tiêu Phong khom lưng đáp:

– Đa tạ bệ hạ.

Gia Luật Hồng Cơ quay người lại, cất bước toan đi thấy Hư Trúc và Đoàn Dự vẫn trừng trừng nhìn mình, không có vẻ gì muốn tránh ra nhường lối, quay lại nhìn Tiêu Phong, thấy ông cũng không nói năng gì, lập tức hiểu ra, biết ba người sợ mình sau này nuốt lời, lập tức rút phắt bảo đao giơ lên cao lớn tiếng nói:

– Ba quân Đại Liêu nghe đây!

Trong quân Liêu tiếng trống trận thúc lên rộn rã, vừa hết một hồi, lập tức ngưng lại. Gia Luật Hồng Cơ nói:

– Đại quân trở lại phương bắc, không tiếp tục nam chinh nữa. Y ngừng lại một chút lại lớn tiếng nói tiếp:

– Trong suốt đời ta sẽ không để một người lính của nước Liêu xâm phạm biên giới Đại Tống.

Y nói xong hạ đao xuống, tiếng trống trong quân lại nổi lên. Tiêu Phong tay phải nhặt mũi tên dưới đất lên, giơ cao lên, vận nội lực, lớn tiếng nói:

– Ta là Liêu quốc Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong, phụng thánh chỉ của bệ hạ tuyên thị: ân đức của bệ hạ trời cao đất rộng, bẻ mũi tên lập thệ, hạ chỉ cả đời không cho phép người nào Đại Liêu quốc xâm phạm biên giới Đại Tống.

Nội lực của ông dư thừa, lần này đề thanh tuyên thị, quan trên quan dưới hơn

mười vạn binh nhất đều nghe rõ. Ông thấy Gia Luật Hồng Cơ cũng không nói gì phản đối, liền khom người nói:

– Cung tiễn bệ hạ hồi trận.

Hư Trúc và Đoàn Dự tránh sang hai bên, đi vòng ra sau lưng Tiêu Phong. Gia Luật Hồng Cơ vừa mừng vừa sợ, lại thêm hổ thẹn tuy muốn ra khỏi nơi hiểm địa cho mau nhưng không muốn để cho Tiêu Phong và quân Liêu thấy mình kém thế nên cố gắng trấn tĩnh, khoan thai trở về.

Trong đám quân Liêu có vài mươi thân binh phi ngựa chạy ra nghinh tiếp. Gia Luật Hồng Cơ lúc đầu bước đi còn chậm rãi nhưng càng lúc càng nhanh, chân lảo đảo dường như không còn hơi sức, tay run lẩy bẩy, mồ hôi trán tươm ra ròng ròng, khi thị vệ xuống ngựa dắt tọa kỵ của y đến thì Gia Luật Hồng Cơ người mềm như bún, chân trái đã đặt vào bàn đạp rồi mà không sao lên yên nổi. Hai tên thị vệ liền đỡ sau lưng, dụng lực nhấc bổng lên, Gia Luật Hồng Cơ mới lên ngựa được.

Quân Liêu thấy hoàng đế bình yên trở về, cùng cất tiếng reo hò:

– Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

Khi đó binh lính người Tống trên Nhạn Môn Quan, quần hào ở dưới đã cùng nghe thấy Liêu đế hạ lệnh thoái binh, lại thề suốt đời không đem quân phạm giới, ai nấy hoan hỉ reo hò như sấm động. Mọi người đều biết người Khất Đan tuy hung tàn hiếu sát nhưng lại cực kỳ thủ tín, đã giao ước gì với Đại Tống rồi, rất hiếm khi nuốt lời, năm đó Tống Liêu hai nước kí kết Thiền Uyên Chi Minh, hai nước cho đến nay hết lòng tuân thủ, huống chi Liêu đế đứng trước trận tiền chính miệng hạ chỉ, Liêu quốc Nam Viện Đại Vương tiếp chỉ thuật lại, binh lính hai bên đều nghe rõ. Ngày sau trở mặt thì dân chúng cùng bách quan trên dưới còn ai coi ông ta ra gì nữa, cái ngôi hoàng đế chưa chắc đã yên.

Gia Luật Hồng Cơ vẻ mặt uất hận, nghĩ thầm phen này mình bị Tiêu Phong bức bách, đáp lời một chuyện trọng đại như thế mới được yên thân trở về, thật không còn mặt mũi nào nữa, vô cùng tổn thương đến quốc uy nước Đại Liêu. Thế nhưng nghe tiếng hò reo vạn tuế của quân Liêu đầy vẻ chí thành, y đưa mắt nhìn khắp lượt sĩ tốt, thấy ai nấy mặt mày hớn hở, niềm vui lộ hẳn ra mặt.

Các sĩ tốt nghĩ đến mọi người lập tức ban sư, trở về đoàn viên cùng cha mẹ vợ con, không phải vạn dặm xa xôi chinh chiến, bỏ thân nơi xứ lạ quê người, mừng không sao kể xiết. Người Khất Đan tuy dũng mãnh thiện chiến, nhưng binh hung chiến nguy, ai dám chắc là mình không chết, hôm nay được miễn cái thảm họa này, ngoài một số tướng lãnh muốn chinh chiến để có dịp thăng quan phát tài, người người đều hoan hỉ.

Gia Luật Hồng Cơ trong dạ bàng hoàng: “Thì ra tướng sĩ của ta cũng chẳng mấy ai muốn tiến đánh Nam triều, nếu như xua binh nam chinh, chưa hẳn chỉ một trận đã toàn thắng”. Y lại chợt nghĩ: “Cái bọn man tử Nữ Chân kia cực kỳ khả ố, để chúng ở sau lưng Khất Đan, thực là mối lo trong gan ruột, ta sẽ phái binh quét sạch chúng đi rồi tính sau”. Y liền giơ bảo đao lên, cao giọng nói:

– Bắc Viện Đại Vương mau mau truyền lệnh, hậu đội biến thành tiền đội, ban sư Nam Kinh.

Trong quân tiếng kèn trống vang lừng, ngự chỉ truyền xuống, tiếng hò reo mới đầu ở gần dần dần truyền mỗi lúc một xa. Gia Luật Hồng Cơ quay đầu lại thấy Tiêu Phong vẫn còn đứng sừng sững tại chỗ cũ, cười khẩy một tiếng lớn tiếng nói:

– Tiêu đại vương, ngươi lập đại công cho Đại Tống như vầy, cao quan hậu lộc kể

là nắm chắc trong tay rồi. Tiêu Phong nói lớn:

– Bệ hạ, Tiêu Phong là người Khất Đan, từng cùng bệ hạ kết nghĩa kim lan, hôm nay uy hiếp bệ hạ, thành đại tội nhân của nước Liêu, vừa bất trung lại vừa bất nghĩa, còn mặt mũi nào đứng trong trời đất?

Ông giơ hai nửa mũi tên gãy, vận nội công vào, hai cánh tay giật mạnh một cái, nghe phụp một tiếng cắm thẳng vào tim. Gia Luật Hồng Cơ kêu lên một tiếng kinh hoàng, giục ngựa chạy lên mấy bước nhưng lại gò cương dừng vó. Hư Trúc và Đoàn Dự hồn phi phách tán, cùng chồm tới kêu lên:

– Đại ca! Đại ca!

Thế nhưng hai nửa mũi lang nha tiễn đã cắm trúng tim, Tiêu Phong đôi mắt nhắm nghiền tắt thở rồi. Hư Trúc vội xé áo ông ra toan cứu chữa nhưng vết thương ở ngay tâm tạng không còn làm gì được nữa. Chỉ thấy trên ngực ông xâm hình một con thanh lang nhe răng, thần tình cực kỳ dữ tợn. Hư Trúc và Đoàn Dự khóc rống lên, phục xuống lạy.

Người trong Cái Bang cùng xông lên, vây quanh sì sụp, Ngô Trường Phong đấm ngực kêu than:

– Kiều bang chủ, tuy ông là người Khất Đan nhưng so với bọn người Hán vô dụng chúng tôi còn anh hùng gấp vạn lần.

Quần hào Trung Nguyên cũng xúm xít, có kẻ hạ giọng nghị luận:

– Kiều bang chủ quả thực là người Khất Đan sao? Thế sao ông ta lại quay sang tương trợ Đại Tống? Xem ra người Khất Đan cũng có anh hùng hào kiệt.

– Y từ nhỏ lớn lên với người Hán nên học được cái tính đại nhân đại nghĩa của người Hán.

– Hai nước bãi binh, ông ta trở thành một đại công thần hòa giải khó khăn, sao lại tự tìm cái chết nhỉ?

– Y tuy có công với Đại Tống nhưng ở nước Liêu thì thành tên giặc bán nước, phản quốc trợ địch, cho nên sợ tội tự sát.

– Cái gì mà sợ với chẳng không sợ? Kiều bang chủ anh hùng như thế, trên đời này còn sợ gì nữa?

Gia Luật Hồng Cơ thấy Tiêu Phong tự tận rồi, trong lòng hết sức hoang mang: “Y đối với Đại Liêu ta có công hay có tội? Y hết sức khuyên ta đừng phạt Tống, thế là vì người Tống hay vì người Khất Đan? Y cùng ta kết nghĩa anh em, trước sau đối với ta trung thành son sắt, hôm nay chết trước Nhạn Môn Quan, đâu phải vì tham cái công danh phú quý của Nam triều, thế… thế là thế nào?”. Y gượng nở một nụ cười, lắc đầu, quay ngựa đi thẳng vào đám Liêu binh.

Tiếng vó ngựa dồn dập trổi lên, hàng nghìn hàng vạn quân Liêu đi về hướng bắc. Tướng sĩ không ngừng quay đầu, ái ngại nhìn thi thể Tiêu Phong nằm dưới đất.

Chỉ nghe tiếng quác quác, một đoàn hồng nhạn bay ngang trên đầu đại quân qua Nhạn Môn Quan.

Liêu quân đi xa dần, tiếng bước chân tựa hồ như sấm vang sau núi. Hư Trúc, Đoàn Dự tất cả mọi người đứng vây quanh xác Tiêu Phong, người thì khóc nức nở, kẻ ngậm ngùi âm thầm rơi nước mắt. Bỗng nghe tiếng một thiếu nữ lanh lảnh kêu lên:

– Tránh ra, tránh ra! Tất cả tránh cả ra! Các người làm chết tỉ phu của ta rồi, còn ở đây giả vờ khóc lóc để làm gì?

Nàng vừa nói vừa hết sức xô mọi người ra chen vào, chính là A Tử. Bọn Hư Trúc chẳng ai muốn tranh cãi với nàng, thấy vậy vội dạt ra. A Tử trừng trừng nhìn vào thi thể Tiêu Phong, ngẩn ngơ một hồi, dịu dàng nói:

– Tỉ phu ơi, tất cả mọi người đều xấu xa, chẳng nên chấp họ làm gì, chỉ có A Tử là thực bụng yêu thương tỉ phu thôi.

Nói xong cúi xuống ôm lấy xác Tiêu Phong. Tiêu Phong thân thể cao to, nửa trên cô gái kéo lên được nhưng hai chân vẫn lệt xệt dưới đất. A Tử lại tiếp:

– Tỉ phu bây giờ mới thực là ngoan, muội ôm huynh, huynh không đẩy muội ra. Phải thế chứ, thế mới là hay chứ.

Hư Trúc và Đoàn Dự hai người nhìn nhau nghĩ thầm: “Nàng thương tâm quá đỗi, xem ra thần trí thất thường”. Đoàn Dự sụt sùi nói:

– Tiểu muội, Tiêu đại ca khẳng khái tựu nghĩa, phổ huệ thế nhân, muội… muội… Chàng tiến đến toan đỡ lấy xác Tiêu Phong. A Tử sừng sộ gắt lên:

– Huynh đừng đến đây cướp tỉ phu của ta, huynh ấy là của ta, không ai được đụng đến.

Đoàn Dự quay đầu nháy mắt với Mai Kiếm. Mai Kiếm hiểu ý đi đến bên cạnh A Tử, dịu dàng nói:

– Đoàn cô nương, Tiêu đại ca qua đời, chúng mình bàn chuyện chôn cất huynh ấy ra sao…

A Tử đột nhiên rú lên lanh lảnh khiến Mai Kiếm cùng Lan Kiếm giật nảy người vội nhảy ngược trở ra. A Tử thét:

– Tránh ra, tránh ra! Ngươi còn đến gần là ta một kiếm đâm chết tươi.

Mai Kiếm cùng Lan Kiếm chau mày nhìn Đoàn Dự lắc đầu. Bỗng từ trong dãy núi bên cạnh cửa ải có tiếng người gọi:

– A Tử, A Tử, ta nghe thấy tiếng cô rồi, cô nương ở đâu đó? Cô nương ở đâu đó? Giọng nói cực kỳ thê thảm, một số đông nhận ra đó là tiếng của Du Thản Chi, người giả tên Trang Tụ Hiền cũng là bang chủ Cái Bang. Mọi người quay qua nhìn về phía có tiếng nói, thấy Du Thản Chi hai hốc mắt đen sì, hai tay cầm hai cây gậy trúc, gậy bên trái dò đường, gậy bên phải móc vào vai một hán tử trung niên, từ thung lũng đi lên. Người đàn ông trung niên kia chính là kẻ được chỉ định ở lại giữ Linh Thứu Cung Ô Lão Đại. Chỉ thấy y hình dung tiều tụy, áo quần rách rưới, thần tình ra chiều cam chịu, bọn Hư Trúc thoạt nhìn đã biết ngay Du Thản Chi ép y phải dẫn đi tìm A Tử, trên đường hẳn phải chịu nhiều đắng cay.

A Tử giận dữ đáp:

– Ngươi đến đây làm chi? Ta không muốn thấy ngươi, ta không muốn gặp ngươi. Du Thản Chi vui mừng nói:

– A, quả nhiên cô nương ở đây, tôi nghe được tiếng cô nương rồi, sau cùng rồi cũng kiếm được cô nương.

Gậy bên phải vận kình đẩy một cái, Ô Lão Đại không tự chủ chạy vọt về phía trước. Hai người chạy thật nhanh, chỉ trong khoảnh khắc đã đến trước mặt A Tử. Hư Trúc và Đoàn Dự còn chưa biết tính sao, thấy Du Thản Chi cùng nghĩ thầm người này cam nguyện đem hai mắt tặng cho A Tử, có liên hệ với nàng cực kỳ sâu xa, may ra có thể khuyên giải cô gái, liền lùi lại mấy bước để mặc hai người trò truyện với nhau. Du Thản Chi nói:

– A Tử cô nương, cô khỏe chứ? Có ai coi rẻ cô nương không?

Trên khuôn mặt xấu xí hiện lên một nét tươi vui, lại ra chiều quan thiết. A Tử đáp:

– Nếu có người coi thường ta thì ngươi làm gì được họ? Du Thản Chi vội đáp:

– Kẻ nào dám đắc tội với cô nương? Cô nương mau bảo tôi, tôi sẽ thí mạng với hắn.

A Tử cười nhạt một tiếng, chỉ vào mọi người đứng chung quanh nói:

– Tất cả bọn họ ai ai cũng khinh khi ta, ngươi giết sạch họ đi xem nào. Du Thản Chi đáp:

Y hỏi Ô Lão Đại:

– Lão Ô, ai là kẻ đắc tội với cô nương? Ô Lão Đại đáp:

– Đông người lắm, ngươi giết không hết đâu. Du Thản Chi đáp:

– Giết không hết cũng cứ giết, ai bảo họ dám đắc tội với cô nương. A Tử bực tức nói:

– Ta hiện nay ở chung với tỉ phu, vĩnh viễn không bao giờ ngăn cách. Ngươi mau mau cút cho xa, ta không muốn thấy mặt ngươi nữa.

Du Thản Chi hết sức đau lòng, lắp bắp:

– Cô… cô nương không còn muốn gặp tôi… A Tử cao giọng đáp:

– À, phải rồi, mắt ta là do ngươi tặng cho. Tỉ phu bảo là ta còn nợ ngươi một mối ân tình, bảo ta phải tử tế với ngươi, ta nghe thế không vui chút nào.

Nàng nói tới đây đưa tay phải lên đâm luôn vào mắt mình, đã móc được đôi con ngươi, hết sức ném vào Du Thản Chi kêu lên:

– Trả ngươi đó! Trả ngươi đó! Từ nay về sau, ta chẳng còn nợ nần gì ngươi nữa. Có thế tỉ phu ta mới khỏi ép ta, bảo ta phải đi theo ngươi.

Du Thản Chi tuy không nhìn thấy gì nhưng nghe tiếng người chung quanh la hoảng, thanh âm đầy vẻ hoảng hốt, biết ngay đã có đột biến, nghẹn ngào nói:

– A Tử cô nương! A Tử cô nương!

A Tử ôm xác Tiêu Phong, nhỏ nhẹ nói:

– Tỉ phu, chúng mình chẳng còn nợ nần ai điều gì. Muội muốn huynh mãi mãi ở cạnh muội, hôm nay quả đã được như tâm nguyện.

Nói xong lệt sệt ôm xác Tiêu Phong bước đi. Quần hào thấy máu từ đôi mắt nàng chảy ròng ròng trên khuôn mặt trắng bệch không khỏi kinh hãi nên đi đến đâu mọi người tránh ra đến đó. Chỉ thấy cô gái đi thẳng về phía sơn cốc ở bên sườn núi. Mọi người ai nấy kêu lên:

– Dừng lại! Dừng lại! Trước mặt là vực sâu. Đoàn Dự phi thân chạy tới kêu lên:

– Tiểu muội, muội…

Thế nhưng A Tử càng chạy nhanh hơn, đột nhiên chân đạp hẫng vào chỗ không, nhào người xuống vực sâu vạn trượng. Đoàn Dự giơ tay ra nắm lại, soẹt một tiếng chỉ nắm được chút vạt áo, đột nhiên bên cạnh có tiếng gió gấp gáp, ai đó đã bổ nhào tới, vội vàng nghiêng qua thấy Du Thản Chi cũng đã lao theo. Đoàn Dự kêu lên:

Chàng đưa mắt nhìn xuống chỉ thấy mây mù bao phủ, không biết vực núi sâu tới đâu. Quần hào đứng bên sơn cốc, ai nấy ngậm ngùi thở dài, người võ công hơi kém thấy vách đá đầy những đá tai mèo lởm chởm, nhọn hoắt như dao, không khỏi kinh tâm.

Những người tuổi cao như Huyền Độ, nhớ lại năm xưa Huyền Từ, Uông bang chủ phục kích võ sĩ Khất Đan ngoài Nhạn Môn Quan, biết mẫu thân Tiêu Phong cũng chết ở ngay cái vực này.

Bỗng nghe từ trên ải tiếng trống đánh thì thùng, gã quan quân kia lại nói:

– Phụng đô chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan truyền tướng lệnh: Các ngươi quả không phải là gian tế nước Liêu nên đặc biệt cho nhập quan nhưng phải an phận giữ gìn, phải theo sự bố trí, không được tự ý hành động.

Quần hào đứng dưới liền nhao nhao chửi rủa:

– Bọn ta thà chết chứ không đi qua cái cửa ải do tên quan chó má kia trấn giữ.

– Nếu chẳng vì tên cẩu quan khiếp nhược kia thì Tiêu đại hiệp đâu có đến nỗi phải chết.

– Tất cả xông vào giết quách tên chó má kia đi!

Mọi người hung hăng chỉ vào cửa ải, hoa tay dậm chân không tiếc lời. Gã trấn thủ Nhạn Môn Quan thấy quần hào uy thế dũng mãnh vội đổi lệnh đóng chặt cửa không cho ai vào nữa, đợi cho mọi người chán lời, bỏ đường cái trèo qua núi xuôi nam cả rồi lúc ấy mới yên lòng.

Bọn Hư Trúc, Đoàn Dự, Ngô Trường Phong vẫn chưa hết hi vọng, vẫn trông mong có một phép lạ, Tiêu Phong có thể sống lại, bế A Tử từ dưới vách núi nhảy lên. Mọi người đợi đến đêm khuya, không thấy động tĩnh gì, liền nghỉ đêm lại ở cốc khẩu. Trấn trủ Nhạn Môn Quan Chỉ Huy Sứ Trương tướng quân viết biểu báo tin, cho khoái mã đưa về Biện Lương, nói là đích thân thống lãnh bộ hạ tướng sĩ, huyết chiến mấy ngày với hơn một chục vạn quân Liêu, nhờ hồng phúc tề thiên của hoàng thượng cùng chỉ bảo đúng đắn của đại thần trong triều nên đã xả thân giết được đại tướng nước Liêu là Nam Viện Đại Vương Tiêu Phong cùng mấy nghìn quân địch, Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ phải cụp đuôi chạy dài.

Tống đế Triệu Hú nhận được biểu hết sức mừng rỡ, truyền chỉ khao thưởng quân sĩ đóng ở chung quanh cửa quan, từ chỉ huy sứ trở xuống ai ai cũng được thăng quan tấn tước. Triệu Hú tự cho mình là anh minh vũ dũng, vượt xa Thái Tổ Thái Tông, ngày đêm cùng triều thần yếm ẩm, hoan lạc với các phi tần ở hậu cung, tiếng ca công tụng đức nghe đầy cả tai, biểu văn khánh chúc đại thắng gửi về nườm nượp. Đoàn Dự cùng Hư Trúc, Huyền Độ, Ngô Trường Phong và quần hùng chia tay rồi liền cùng Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Hoa Hách Cấn, Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, cùng với đám người Hiểu Lôi, Mai Lan Trúc Cúc trở về Đại Lý. Hiểu Lôi và Mai Lan Trúc Cúc lưu luyến không muốn rời vợ chồng Hư Trúc, rơi lệ chia tay. Đám người Đoàn Dự theo Tứ Xuyên, Thổ Phồn đi xuống phía nam. Vào đến quốc cảnh, Vương Ngữ Yên và thị vệ võ sĩ Đại Lý đã ra tận biên giới nghênh tiếp, nghe Đoàn Dự kể lại tình trạng Tiêu Phong và A Tử ai nấy đều ngậm ngùi. Cả đoàn về nam, Đoàn Dự không muốn kinh động bách tính nên truyền lệnh không mặc sắc phục bách quan, ra đi thế nào cứ để nguyên như thế mà lên đường.

Đoàn Dự nói với Vương Ngữ Yên về lai lịch của Hiểu Lôi và Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ, Vương Ngữ Yên cười không đáp, một lát sau mới nói:

– Nhị ca huynh, nhị tẩu huynh tặng huynh năm người con gái, huynh phong ai làm hoàng hậu, ai làm phi tử?

Đoàn Dự mỉm cười nói:

– Các nàng đều là quận chúa nương nương nước Đại Lý, đều là muội tử của ta, giống như muội vậy.

Vương Ngữ Yên nói:

– Dự ca, huynh cẩn thận nhìn ta một cái, nói thật cho muội biết muội gần đây có gì khác?

Đoàn Dự chăm chú nhìn khuôn mặt nàng, chỉ thấy nàng kiều diễm như trước, đôi mi thanh tú, mắt sáng, môi anh đào, miệng nhỏ, chút không giống, nói:

– Muội vẫn giống y như lần đầu tiên ta gặp.

Vương Ngữ Yên thối lui từng bước, nói:

– Ngày hôm qua trên đầu muội có sợi tóc bạc, khóe mắt bên trái lại có nếp nhăn, huynh không hề chú ý muội, bởi vậy huynh không ra. Muội đã già đi chỉ sau một đêm.

Đoàn Dự thở dài:

– Sinh lão bệnh tử, nhân chi đại khổ, trên đời có ai một ngày mà không già đi. Vương Ngữ Yên nói:

– Mấy người kia Mai Lan Trúc Cúc tiểu muội muội, ngây thơ hoạt bát, giống hệt muội mấy năm trước.

Đoàn Dự nói:

– Muội so với các nàng đẹp hơn nhiều lắm. Vương Ngữ Yên nói:

– Đẹp thì có ích lợi gì? Muội thà rằng được như các nàng tươi trẻ, đáng yêu. Đoàn Dự nói:

– Trong lòng ta, muội so với các nàng tươi trẻ đáng yêu hơn nhiều. Vương Ngữ Yên thở dài:

– Dự ca, trước kia trong lòng muội thường nói: “Đoàn lang tuy rằng võ công không tốt, ngốc nghếch ngớ ngẩn, dù sao cũng trung hậu thành thật, rất đáng tin cậy, quyết không nói dối ta nửa lời”. Những chỗ tốt đó, giờ đây ngày càng mất đi.

Đoàn Dự vội la lên:

– Ta không thay đổi. Ta vẫn võ công không tốt, ngốc nghếch ngớ ngẩn, nhưng trung hậu thành thật, rất đáng tin, quyết không nói dối muội nửa lời.

Vương Ngữ Yên nói:

– Huynh bây giờ đã nói dối, đã nói toàn bộ một câu, không nói nửa câu, nếu không thì nói hai câu ba câu, tám câu mười câu. Ôi! Sinh lão bệnh tử, muội thà rằng mau sinh bệnh, mau mau chết đi, để không phải biến thành lão thái bà xấu xí, mỗi ngày nghe huynh nói dối gạt muội.

Đoàn Dự nghe nàng luôn bới lông tìm vết, nói như tróc nã giống Liêu đế Gia Luật Hồng Cơ, liền đi sang nói chuyện với Mộc Uyển Thanh.

Đám người Đoàn Dự theo đường núi xuống phía nam, đi vào quận Thiện Cư, phủ Mưu Thống, phía tây và phía bắc đều là núi cao, băng tuyết bao phủ, đâu đâu cũng là núi non trùng điệp, khe sâu chảy siết, địa thế rất hung hiểm. Hôm đó ở quận Thiện Cư nghỉ trọ tại một ngôi nhà lớn của nông dân bên núi. Đoàn Dự vừa muốn đi ngủ thì Ba Thiên Thạch gõ cửa cầu kiến, nói với Đoàn Dự:

– Hoàng thượng, Vương cô nương nói với thần về chuyện Bất Lão Trường Xuân Cốc, thần muốn đến xin hoàng thượng chỉ bảo.

Đoàn Dự thấy kinh ngạc, hỏi:

– Bất Lão Trường Xuân Cốc là nơi nào? Ba Thiên Thạch nói:

– Vùng này mọi người đều nói: phía bắc quận Thiện Cư, ở phía nam núi cao Thổ Phồn, có một nơi tên là Bất Lão Trường Xuân Cốc, nơi đó mỗi người đều sống đến hơn một trăm tuổi, vả lại lão nhân trăm tuổi đều da dẻ hồng hào, trông như thiếu niên thiếu nữ mười mấy tuổi. Thần chưa đi qua chỗ đó, cũng chưa thấy qua người dân chỗ đó, bất quá nhiều người đều nói đó là chính xác, thần được nghe từ bé rồi. Vương cô nương muốn thần dẫn đến xem xét, không biết Bất Lão Trường Xuân rốt cuộc có hay không?

Lúc này Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ cũng vào phòng, Cúc kiếm ngắt lời nói:

– Bất lão trường xuân, tự nhiên là thật. Đồng Mỗ của chúng ta luyện được Thiên Trường Địa Cửu Bất Lão Trường Xuân Công. Lão nhân gia đã chín mươi sáu tuổi, dáng vẻ lại giống một tiểu cô nương bình thường.

Trúc kiếm nói:

– Đáng tiếc, lão nhân gia chưa sống đến một trăm tuổi thì đã bị sư muội Lý Thu Thủy hại chết.

Đoàn Dự nghĩ rằng, Vương Ngữ Yên mấy ngày nay vì tuổi xuân trôi đi mà phiền não, môn Bất Lão Trường Xuân Công quả thật là có ích trong lúc này, đáng tiếc nhị ca, nhị tẩu không ở trước mắt, nếu không thì ta sẽ thỉnh giáo bọn họ, liền quay lại hỏi Hiểu Lôi:

– Hiểu Lôi muội tử, ngươi có từng nghe công chúa nói qua môn công phu này chưa? Hiểu Lôi nói:

– Lúc công chúa nương nương cùng phò mã gia nói tiền bối của họ, ta ở bên cũng nghe được một ít. Công chúa gọi Lý Thu Thủy là bà nội, Thiên Sơn Đồng Mỗ là đại sư tỉ của bà, nhị sư ca của bà tên là Vô Nhai Tử. Đồng Mỗ học được Thiên Trường Địa Cửu Bất Lão Trường Xuân Công, truyền lại một ít cho sư đệ, lại không truyền cho sư muội. Sư tỉ muội hai người bởi vậy kết thành đại cừu, đánh nhau một hồi…

Mai Kiếm cướp lời nói:

– Sai rồi, sai rồi!

Lan Kiếm nói:

– Sư tỉ muội kết thành đại cừu, đó là đúng. Trúc Kiếm nói:

– Nhưng không phải vì Đồng Mỗ không chịu truyền công. Cúc Kiếm nói:

– Mà là bởi vì sư tỉ muội hai người đều đã yêu Vô Nhai Tử, ghen tức lẫn nhau, há lại không đánh nhau một hồi?

Hiểu Lôi nói:

– Ta cũng biết, có điều lời này nói ra rất khó nghe… Tứ nữ cùng nói:

– Khó nghe hay dễ nghe cũng phải nói thật.

Vương Ngữ Yên nghe nói Đồng Mỗ cùng Lý Thu Thủy sống đến tám chín mươi tuổi, dung nhan vẫn không già, liền xin Đoàn Dự nhất định phải đến Bất Lão Trường Xuân Cốc xem một cái. Sáng sớm hôm sau, Đoàn Dự triệu tập đám người Hoa Hách Cấn, Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, Phó Tư Quy, cùng Vương Ngữ Yên, Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Hiểu Lôi, Linh Thứu tứ nữ suất lĩnh binh mã hộ giá, theo hướng bắc mà đi.

Ba Thiên Thạch một ngựa đi trước dò xét đường đi, lúc sẩm tối thì hồi báo, tra xét được Bất Lão Trường Xuân Cốc ở phía trước mấy trăm dặm, nhưng rừng rậm khe sâu, núi cao cản đường, người ngoài muôn vàn khó khăn để vào cốc.

Đoàn người đi dọc theo sơn đạo, càng đi càng cao, đường cũng càng ngày càng hiểm trở khó đi, càng về sau ngựa không thể đi. Mọi người xuống ngựa đi bộ, đường đi dốc đứng, phải dùng dây thừng kéo lên. Quá nửa sĩ tốt đã khó thở, đau đầu như muốn vỡ ra, Phạm Hoa liền bảo bọn họ nghỉ ngay tại chỗ. Sau một thời gian dài leo lên, đi vào một bãi đất cao. Đoàn Dự hỏi:

– Ngữ Yên, Hiểu Lôi, các ngươi còn chống chọi được không? Vương Ngữ Yên cùng Hiểu Lôi gật gật đầu.

Đi đến lúc trời tối, đi tới trước một cái khe sâu, địa hình ngang trời đoạn

tuyệt, không có đường đi ở trước, nếu muốn đi về phía trước, chỉ có đi xuống thâm cốc, nhưng chưa chắc có thể qua đáy cốc leo lên bờ bên kia. Mọi người đang tới lúc không biết làm thế nào, đột nhiên phía trước bên trái có hai người đi đến. Chỉ thấy hai người này ăn mặc gọn gàng, một người trong tay cầm gậy trúc rất dài, trên đầu có mắc lưới, người còn lại trên vai vách một cái thang trúc rất dài, dài đến mười trượng.

Ba Thiên Thạch biết nói thổ ngữ địa phương, tiến lên hỏi thăm, nói một hồi lâu, trở về bẩm báo:

– Hoàng Thượng, hai người này là người đi lấy tổ yến ở trên vách đá núi cao, là dân tộc Nộ bản địa. Bọn họ đời đời ở đây, nói rằng muốn đến Bất Lão Trường Xuân Cốc trong truyền thuyết, còn phải lên núi hơn hai trăm dặm, hôm nay không thể đi đến. Ngày mai sơn đạo càng hiểm, cho dù bọn họ là người sống trên núi cũng không dám đi. Bọn họ nói trên cây đại thụ ở phía trước có viết mấy chữ, nhưng bọn họ không nhìn được, bảo chúng ta có thể đi lên nhìn một cái. Thần thưởng bọn họ mỗi người mười lạng bạc, xin bọn họ đến phía trước cây đại thụ để sao lại các chữ viết trên đó.

Mọi người liền ngồi xuống nghỉ ngơi bên sơn đạo, bọn Mai Kiếm đun nước nấu cháo, hái chút nấm bỏ vào nồi cháo, chỉ một lúc mùi thơm đã xông vào mũi. Cúc Kiếm nói sợ nấm có độc, liền cho Hoàng Thượng ăn trước. Ba Thiên Thạch nói:

– Đó là nấm Hầu Đầu, nấm Ngưu Đỗ, ta đã biết qua, không có độc đâu. Mai Kiếm cười nói:

– Cúc muội đã đói bụng, cứ ăn cháo, không phải sợ hoàng thượng ca ca trúng độc. Cúc Kiếm nói:

– Ta đã đói bụng, toàn thân vô lực, đó là trúng độc, muốn ăn một chén cháo nấm hương để giải độc.

Mọi người vui vẻ ăn cháo, khen ngợi cháo thơm ngon. Hai người hái tổ yến cũng tô lại văn tự trở về. Bọn họ chiếu theo chữ khắc trên cây đại thụ, dùng than vẽ lại đồ hình, đồ hình đầy những chữ quanh co khúc khuỷu. Ba Thiên Thạch nhận ra là chữ tượng hình của dân tộc Nạp Tây ở bản địa. Nguyên lai dân tộc Nạp Tây đã sáng tạo ra chữ tượng hình từ rất lâu chữ, so với chữ tượng hình của người Hán thì sớm hơn, có điều nội dung đơn giản, không thích hợp biểu đạt những ý tứ phức tạp.

Ba Thiên Thạch trầm tư một hồi, rút ra đoản chủy, viết lên trên đá mấy chữ Hán: Thần thư dĩ tùy tiêu dao khứ,

Thử cốc duy dư trường xuân tuyền. Ba Thiên Thạch nói:

– Những chữ đó rất là cổ quái, đại khái chính là ý nghĩa như này. Hình như là nói, Bất Lão Trường Xuân Cốc vốn có một bộ kì thư, dạy người ta trường xuân bất lão như thế nào, hiện nay bộ kì thư bị một người tên là cái gì Tiêu Dao Tử lấy được, trong cốc chỉ còn lại một dòng nước suối, giúp người uống vào có thể kéo dài thanh xuân. Hai người hái tổ yến nói, trong cốc đột nhiên có một người đu một dây mây trên đại tùng, đi ra khỏi cốc, sau khi đi ra thì không trở về được. Lúc ra ngoài, người đó da dẻ hồng hào, đúng là một thiếu niên mĩ mạo, có điều ở ngoài cốc không được vài ngày, tóc đen liền chuyển thành trắng, lưng còng lại, mặt đầy nếp nhăn, trong vài ngày đã trong như một ông lão trăm tuổi, qua vài ngày thì chết. Bởi vậy người ở ngoài nói trong cốc có yêu quái, ai cũng không dám đi vào. Hai người hái tổ yến lương tâm rất tốt, hết sức khuyên chúng ta quay đầu lại, không cần đi tiếp.

Đoàn Dự nghe Ba Thiên Thạch nói rất nghiêm túc, liền nói:

– Chúng ta đêm nay ăn ngủ ở đây, chờ trời sáng sẽ tính tiếp.

Hiểu Lôi trải một tấm đệm mang theo ra, cho Đoàn Dự nghỉ ngơi dưới tán cây. Mọi người hoặc ngồi hoặc nằm, có người ngủ thiếp đi.

Sáng sớm hôm sau, hai người hái tổ yến lại tốt bụng tới khuyên:

– Ở lâu trong cốc cố nhiên có thể kéo dài thanh xuân, nhưng khi ra khỏi cốc sẽ chết ngay, trong cốc yêu dị đa đoan. Nghe nói bộ kì thư đã bị người ta đem đi, các vị đi vào trong cốc, cũng không tìm ra được bí quyết trường xuân bất lão. Ba Thiên Thạch cảm tạ bọn họ, tặng hai mươi lượng bạc, hai người bái tạ mà đi. Vương Ngữ Yên nói:

– Trên cây kia viết là vị Tiêu Dao Tử, đó có phải là sư phụ của Thiên Sơn Đồng Mỗ không?

Hiểu Lôi nói:

– Đúng vậy đích. Công chúa, phò mã gia đều nhận là phái Tiêu Dao. Vương Ngữ Yên nói:

– Tôi từng nghe mẹ nói, bà trước đây theo ông ngoại, bà ngoại ở trong một cái thạch động…

Đoàn Dự nói:

– Đó là Vô Lượng Ngọc Động, ta biết chỗ đó ở đâu. Chỗ đó có cái tượng ngọc rất xinh đpẹ, giống hệt Yên muội.

Ánh mắt Vương Ngữ Yên lóe lên, nói với Đoàn Dự:

– Bộ kì thư kia, chắc là do sư tổ của ngoại công đem đến Vô Lượng Ngọc Động. Huynh dẫn chúng ta đi xem cái tượng ngọc một cái, được không?

Mọi người biết nàng nói như vậy, kỳ thật là muốn đi tìm bộ kì thư kia. Mai Kiếm nói:

– Nếu thực sự có bộ kì thư đó, ta cũng không luyện. Lan Trúc Cúc ba hảo muội tử, nếu đều biến thành lão bà bà, ta lại là một tiểu cô nương thì con ra cái gì nữa?

Cúc Kiếm nói:

– Đúng! Đây gọi là có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chịu. Các ngươi đều thành lão bà bà, đều đến vỗ vỗ đầu ta, khen ta một câu tiểu muội muội, còn gì là thú vị nữa?”

Đoàn Dự cười nói:

– Sinh lão bệnh tử, mọi người đều phải trải qua. Phật tổ phật pháp khôn cùng, vẫn phải già đi, vẫn phải viên tịch, tôi là người phàm, sao có thể trường sinh bất tử?

Vương Ngữ Yên vẫn không ngừng cầu khẩn. Đoàn Dự cũng muốn đi nhìn lại Thần tiên tỉ tỉ một cái, liền đồng ý với nàng. Vương Ngữ Yên mừng rỡ, ngẩng mặt lên nhìn Bất Lão Trường Xuân Cốc ở xa xa, tưởng tượng mình giữ gìn đước nhan sắc, vĩnh viễn không bị già đi.

Đoàn Dự trước tiên phái Ba Thiên Thạch cùng Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ đến Vô Lượng Động thương lượng với động chúa Tân Song Thanh. Tứ nữ nguyên là thị nữ của Đồng Mỗ, là cấp trên của Tân Song Thanh, vừa mới nói, Tân Song Thanh lập tức suất lĩnh đệ tử bản môn nghênh tiếp đoàn người Đoàn Dự.

Tân Song Thanh nói, nàng từ khi tiếp chưởng Vô Lượng Động, phụng lệnh Linh Thứu Cung, từng đến ngọc động quét tước sửa sang lại, toàn bộ mọi vật không dám di động nửa phần, kiếm quang rực rõ ngẫu nhiên xuất hiện trên ngọc bích do bóng của tiên nhân múa kiếm thủy chung không hề xuất hiện. Đường đi vào động sau khi

sửa sang lại đã dễ đi hơn lúc trước. Nàng nói:

– Đoàn công tử nếu muốn đi chiêm bái ngọc tượng, thuộc hạ xin dẫn đường.

Nàng không gọi Đoàn Dự là “bệ hạ”, mà gọi là “Đoàn công tử”, ý tứ nói chàng tuy là hoàng đế Đại Lý, nhưng chúng ta không phụng hiệu lệnh quan phủ hoàng đế, chỉ vì chàng là Đoàn công tử, huynh đệ kết nghĩa của chủ nhân Linh Thứu Cung, nếu chàng nói muốn đi chiêm bái ngọc tượng, chúng ta mới đi trước dẫn đường.

Sáng sớm hôm sau, Tân Song Thanh cùng chư đệ tử Vô Lượng Động dẫn Đoàn Dự, Hoa Hách Cấn, Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, Vương Ngữ Yên, Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Hiểu Lôi, Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ theo hướng tây mà đi, quá dạng bị giang, thắng bị hà, leo qua mấy chỗ núi cao trùng điệp, dần dần đến sông Lan Thương. Đường xá có chút khúc chiết gập ghềnh, cũng may mọi người Vô Lượng Động quen thuộc địa đường, đến sẩm tối, nghỉ trọ ở một trấn nhỏ. Sáng sớm hôm sau lại đi tiếp, qua giờ ngọ, đệ tử Vô Lượng Động dẫn đường đưa tin:

– Nơi này cách Vô Lượng Ngọc Bích còn không đến hai mươi dặm đường.

Theo núi cao xuống bên hồ, tất cả đều là vách đá dựng đứng, Vô Lượng Động đã treo những cái xích sắt dài, giúp cho người ta dùng khi lên xuống. Lúc mọi người đến thác nước lớn bên bờ hồ trong vắt thì trời đã tối hẳn. Đoàn Dự hồi tưởng ngày đó trượt chân ở vách đá rất nguy hiểm, rơi xuống chỗ này, may mắn không chết, mới có hôm nay, vì thế hạ lệnh mọi người ở ven hồ nghỉ trọ một đêm. Đoàn Dự đến bên Mộc Uyển Thanh, nói:

– Uyển muội, ngày ấy ta từ trên ngọn núi rơi xuống, may mắn được một gốc cây đại tùng đỡ lại, mới ngã xuống chỗ này, sau lại liền tới chỗ muội mượn Hắc Mai Côi.

Mộc Uyển Thanh nói:

– Tiếc là mất một hảo mã, lại biết được một xú ca ca! Đoàn Dự nói:

– Nhất Đoàn Mộc đầu, danh dự cực xấu!

Mộc Uyển Thanh nhớ tới chuyện ngày đó, nhịn không được phì cười, nhu tình chợt nổi lên, nói:

– Ca ca, kỳ thật đây là trời đã an bài, huynh cũng không phải thật xấu xa, huynh trong lòng vẫn đối xử với muội rất tốt.

Đoàn Dự nói:

– Ta là nam tử đầu tiên được nhìn diện mạo muội, quả nhiên là xinh đẹp, toàn bộ không một tì vết. Hai ta từ nay về sau vĩnh không xa rời nhau, đó thật là tốt! Sáng sớm hôm sau, Đoàn Dự vừa mới ngủ dậy, tứ nữ lập tức tới bẩm báo, nói Vương Ngữ Yên không đợi được, sáng sớm đã đi tới thạch động. Đoàn Dự biết nàng nóng lòng tìm bí kíp Bất Lão Trường Xuân Công, lập tức dẫn mọi người đi vào thạch động. Chàng vẫn nhớ rõ đường đi, sau khi vào động, trước tiên đi ra phía sau hậu thất chỗ cái gương đồng, nghĩ thầm: “Thạch thất này đúng là nơi Lý Thu Thủy từng ở”. Ra khỏi thạch thất, đi qua những bậc đá rất dài, liền nhìn thấy ngọc tượng Thần tiên tỉ tỉ. Ngọc tượng vẫn y như lần đầu tiên chàng trông thấy, tà áo lụa màu vàng hơi hơi rung động, hai con ngươi bằng bảo thạch ánh lên sinh quang, thần sắc trong ánh mắt dường như tình ý tha thiết, lại giống như ảm đạm bi thương.

Lúc này đám Hiểu Lôi, Chung Linh, tứ nữ đều đã đứng trước ngọc tượng, mấy người nói:

– Đây đúng là ngọc tượng Vương cô nương!

– Đúng vậy, ngọc tượng không phải Vương cô nương thì còn ai vào đây nữa?

– Thật là đẹp, so với Vương cô nương còn đẹp hơn nhiều lắm!

Đoàn Dự lại nhìn thấy ngọc tượng, thoáng trong lúc đó, trong lòng một mảnh lạnh lẽo, nhất thời hiểu được:

– Trước kia ta vừa thấy Ngữ Yên liền mê muội vì nàng, toàn tâm toàn ý hướng về nàng, hoàn toàn không thể tự chủ. Người ta giễu cợt cũng thế, mỉa mai cũng thế, ta không có chút gì xấu hổ. Ngữ Yên đối với ta hờ hững, nhìn như không thấy, tôi cũng hoàn toàn không để tâm. Sở dĩ tự khinh tự tiện như vậy, chỉ vì ta nghĩ nàng chính là thần tiên tỉ tỉ trong sơn động, rốt cuộc khiến ta mê man, hỗn loạn, làm một con cóc không biết thẹn. Đó không phải là Ngữ Yên có ma lực mê hoặc ta, tất cả đều là tự mình tâm sinh “tâm ma”, mê hoặc chính mình.

Chúng nữ vẫn còn bàn tán về ngọc tượng, một người nói:

– Chỉ có ngọc tượng này mới có thể đích thực kéo dài thanh xuân, qua cả chục năm cũng không già nửa phần, nhưng Vương cô nương tới lúc đó đầu cũng đã đầy tóc bạc.

Vương Ngữ Yên nghe xong, trong lòng hơi tức giận, đang lúc thoáng mắt nhìn, nhìn thấy dung mạo của mình phản chiếu qua chiếc gương đồng trên vách đá. Lúc này đang tức giận sùng sục, diện mạo bên ngoài ôn nhã dễ thân bình thời nhất thời mất hết, so với ngọc tượng đáng yêu dễ thương thì khác nhau xa.

Vương Ngữ Yên thầm nghĩ: “Bí quyết Trường Xuân Công quá nửa là giấu trong ngọc tượng!”. Liền đưa tay đẩy ngọc tượng.

Tiếng phình phịch vang lên, ngọc tượng ngã xuống đất, đầu tượng nhất thời nứt ra, một nửa khuôn mặt rơi xuống đất, quần áo cũng bị lộn xộn. Tứ nữ kêu lên sợ hãi né ra, Hiểu Lôi kêu lên:

– Vương cô nương!

Vương Ngữ Yên đứng cạnh ngọc tượng, thấy chỗ đầu ngọc tượng là khoảng không, liền thò tay sờ vào chỗ trống, chỉ thấy chạm phải một miếng ngọc thạch nhỏ, còn có chút tóc, cho là dấu vết Vô Nhai Tử để lại khi làm tượng.

Đoàn Dự khuyên nhủ:

– Chỉ sợ quả thật không có Bất Lão Trường Xuân Công. Cho dù có Bất Lão Trường Xuân Công, cũng chỉ sống lâu thêm, thân thể khang kiện mà thôi. Đạo gia nói sinh tử, viết “tề thiên địa”, “tọa vong”, chính là khuyên người ta nghĩ thoáng ra một chút. Phật gia coi sinh là khổ, lão, tử không thể miễn được. Thích Ca Mâu Ni giáo huấn chúng đệ tử: “Nhân sinh bát khổ: sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, ái biệt li, cầu bất đắc, ngũ âm sí thịnh, nãi hữu ưu bi đại khổ não tụ, thử khổ chi tụ. Phải biết sắc vô thường, thụ, tưởng, hành, thức vô thường, phi ngã”. Yên muội, nhân thân sắc vô thường, hôm nay tuyệt vời vô cùng, ngày mai liền suy bại, đại khổ này mỗi người đều không tránh được!

Chỉ nghe Vương Ngữ Yên kêu lên:

– Ta không cần vô thường…

Nàng ôm mặt chạy ra ngoài. Đoàn Dự thấy đầu ngọc tượng bị vỡ, con mắt trái bằng bảo thạch đen rơi ra, để lại một chỗ trống rỗng, viên ngọc minh châu vốn cài trên tóc đã hiện màu vàng, quần áo trên người rách nứt, “Thần tiên tỷ tỷ” không còn phong thái tôn quý như trước đây. Đoàn Dự không khỏi thở dài, thầm nghĩ: “Chẳng những sắc đẹp con người vô thường, ngay cả ngọc tượng cũng không thể bảo toàn mỹ mãn.”

Từ lúc Đoàn Dự đăng cơ hoàng đế Đại Lý quốc, ngoại trừ một đợt dịch bệnh đậu mùa, còn đâu thì quốc thái dân an, bốn bề thanh bình; chàng nghe theo đề nghị của bá phụ Bản Trần đại sư cùng Hoàng Mi đại sư Niêm Hoa tự, miễn trừ thuế muối

trong cả nước Đại Lý. Chàng mở rộng đường xá, mở rộng thuyền bè, đưa muối mỏ từ Tứ Xuyên vào, lại thăm dò được hai mỏ muối ở tây bắc Đại Lý, hàng năm sản xuất rất nhiều muối, dân chúng cả nước muối ăn không bị thuế, cung ứng đầy đủ, còn dư muối đưa đến Thổ Phồn, đổi lấy bơ cừu. Dân chúng cả nước vui vẻ, đều nói Đoàn Dự hoàng đế tốt, tạo phúc cho nhân dân.

Hôm đó ngày xuân trong sáng, cả nước Đại Lý đang chào mừng ngày hội “Tam nguyệt nhai” ngày hội, nam nữ già trẻ các dân tộc Đại Lý, Bãi Di, Miêu tộc, Tạng tộc, Hán tộc, Lật Túc, Di tộc, Hồi tộc, Thái tộc, Nạp Tây, A Xương, Phổ Mễ, Nộ tộc, Mông Cổ, Bố Lãng, mọi người đều ăn mặc sặc sỡ, ở trên đường Đại Lý vừa múa vừa hát, uống rượu tặng hoa, sung sướng vô cùng.

Ở trong cung, Đoàn Dự sau khi đến mời rượu Hoàng bá mẫu, Hoàng thái phi, cùng đám người Mộc Uyển Thanh, Chung Linh với các quận chúa mở tiệc vui vẻ. Rồi lập tức dẫn Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, cùng với bọn Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, đi tuần lên phía bắc, đi vào quận Thiện Cư, phủ Mưu Thống. Mộc Uyển Thanh hỏi:

– Dự ca, huynh một đường đi lên phía bắc, chẳng phải đi đón Vương cô nương sao? Đoàn Dự nói:

– Vương cô nương đã quay về Tô Châu rồi, lúc này nàng muốn ở cùng với biểu ca. Chung Linh nói:

– Vậy huynh đến chỗ này làm gì? Đoàn Dự nói:

– Theo các ngươi đạp thanh giải sầu!

Mọi người tùy ý phóng ngựa mà đi, dùng cơm tại vùng thôn quê, tâm ý rất vui sướng. Đưa mắt nhìn lại, thấy cỏ cây xanh tốt như tấm thảm, bên đường liễu rủ lả lướt, những cơn gió ấm từ từ thổi nhẹ, thật là khiến người ta say lòng như rượu, tâm ý nhẹ nhàng say sưa. Đoàn Dự than nhẹ:

– Trường ký lục la quần, xử xử ức phương thảo! Chung Linh nói:

– Ca ca, huynh nhớ Vương cô nương sao? Đoàn Dự nói:

– Có một chút, nhưng không phải toàn bộ.

Suy nghĩ trong lòng chàng, ngoại trừ Vương Ngữ Yên, ở Thái Hồ còn có A Bích. Nơi đồng cỏ xanh mênh mông vô bờ vô bến, giống như sóng nước xanh biếc ở Thái Hồ, lục la quần chính là A Bích.

Lại chơi nửa ngày, thấy trời đã tối, Đoàn Dự phân phó hồi cung, mọi người quay đầu ngựa đi xuống nam, qua một khu rừng, xung quanh có vài ngôi nhà. Bỗng nghe trong rừng có tiếng trẻ con reo lên:

– Bệ hạ! Bệ hạ! Chúng tôi lạy bệ hạ rồi, sao bệ hạ không cho kẹo?

Mọi người nghe thế ai nấy đều ngạc nhiên: “Sao lại có người nhận ra được hoàng thượng nhỉ?”. Cả bọn tiến vào xem xét, nghe thấy trong rừng có người nói:

– Các ngươi phải xướng: Nguyện Ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế, thế mới có kẹo.

Tiếng nói đó cực kỳ quen thuộc, chính là Mộ Dung Phục. Đám người Đoàn Dự kinh hãi, nép vào sau gốc cây, nhìn về phía có thanh âm, thấy Mộ Dung Phục ngồi trên một cái gò đất, đầu đội mũ giấy cao nghệu, thần sắc nghiêm trang.

Bảy tám đứa trẻ con nhà quê quỳ trước đống đất, lao xao nhắc lại:

– Nguyện ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!

Bọn chúng vừa chúc tụng rầm rĩ vừa lạy như tế sao, có đứa thò tay giục:

– Cho kẹo đi, cho bánh đi!

Mộ Dung Phục đáp:

– Chư khanh bình thân, trẫm đã hưng phục được Đại Yên, lên ngôi đại bảo rồi, mọi người ai cũng được phong thưởng.

Bên cạnh gò đất có hai cô gái đứng ủ rũ, chính là A Bích và Vương Ngữ Yên. Vương Ngữ Yên quần áo hoa lệ, hai má đánh phấn nhẹ. A Bích mặc một chiếc áo dài màu xanh lợt, khuôn mặt xinh xắn nhuốm vẻ tiều tụy buồn rầu, lấy kẹo bánh từ trong một chiếc giỏ, chia cho đám trẻ con miệng nói:

– Các cháu ngoan lắm, mai ra chơi nữa, lại được kẹo được bánh.

Giọng nàng nghẹn ngào, mấy giọt nước mắt lã chã rơi trên giỏ tre. Bọn trẻ con vỗ tay reo hò giải tán cùng nói:

– Mai lại ra nữa!

Đoàn Dự biết rằng Mộ Dung Phục thần trí đã thất thường, cái mộng đế vương càng lúc càng sâu, không khỏi bùi ngùi. Lại thấy Vương Ngữ Yên và A Bích theo Mộ Dung Phục, lộ ra vẻ buồn tẻ, chán nản, nỗi thương xót dâng tràn, định lên tiếng gọi hai nàng và Mộ Dung Phục cùng về Đại Lý để tính đường sắp xếp cho ổn thỏa nhưng thấy A Bích cùng Vương Ngữ Yên nhìn Mộ Dung Phục hết sức nhu tình, còn Mộ Dung Phục thì mặt mày đầy vẻ đắc ý thỏa mãn, trong bụng bàng hoàng: “Mỗi người có một duyên pháp khác nhau, Mộ Dung huynh và Vương Ngữ Yên, A Bích như thế này, với người khác thì thấy họ đáng thương, có biết đâu trong lòng họ lại hết sức hoan lạc không chừng? Bọn họ đến Đại Lý chắc gì đã vui vẻ, ta việc gì phải lắm chuyện?”.

Lập tức đứng ra xa xa sau gốc liễu thụ, nhìn Vương Ngữ Yên và A Bích, trong lòng đau xót, nhịn không được nước mắt chảy ròng ròng. Vương Ngữ Yên vừa ngẩng đầu, bỗng nhiên thấy Chu Đan Thần. Chu Đan Thần lắc lắc đầu về phía nàng, Vương Ngữ Yên hiểu ý, không lên tiếng tiếp đón, quay mắt nhìn lại, thấy Đoàn Dự sau gốc liễu thụ, liền bước đến phía chàng. A Bích thấy Vương Ngữ Yên hành động khác lạ, mắt cũng vừa thấy Đoàn Dự. Ba người trong lòng đều có rất nhiều chuyện muốn nói nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu, lại bước đến gần nhau. Đoàn Dự gọi nhỏ:

– Yên muội! A Bích tiểu muội tử!

Vương Ngữ Yên và A Bích cùng kêu lên một tiếng:

Hai nàng thấy Đoàn Dự rơi lệ, lòng không kìm được, nước mắt lại tuôn rơi. Ba người đứng với nhau một lát rồi phất tay từ biệt, quay người bước đi. Vương Ngữ Yên và A Bích quay người lại, thấy Mộ Dung Phục vừa được bọn trẻ con bái lạy, trên mặt đầy vẻ vui mừng, hai nàng lau nước mắt, đến bên Mộ Dung Phục.

Đoàn Dự cùng mọi người lặng lẽ lui ra. Chỉ thấy Mộ Dung Phục ngồi chễm chệ quay mặt về hướng nam, miệng vẫn lảm nhảm không thôi.

Đoàn Dự trở lại cung, triệu tập đám người Cao Thái Minh, Hoa Hách Cấn, Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần thương nghị, nghi ngờ Mộ Dung Phục từ Tô Châu xa xôi tới Đại Lý có mục đích gì. Hoa Hách Cấn nói:

– Bệ hạ, theo thần thấy, Mộ Dung Phục một lòng muốn phục quốc làm vua, mưu sự bất thành, thần trí đã hỗn loạn.

Ba Thiên Thạch nói:

– Thần cũng nghĩ như Hoa đại ca. Mộ Dung Phục tự xưng hoàng đế, nếu ở trong đất Đại Tống, để cho người ta phát giác, đó là đại tội chém cả nhà. Vương cô nương lo y gặp chuyện không may, lại thấy y không tỉnh táo, liền dẫn y đến Đại Lý, nhờ sự bao che của bệ hạ.

Phạm Hoa gật đầu nói:

– Đúng vậy. Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Phong Ba Ác đã bỏ y mà đi, y cũng chẳng thể làm gì nữa. Bệ hạ khoan hồng độ lượng, không cần phải để ý tới, nếu không thần phái người trục xuất y.

Đoàn Dự lắc đầu nói:

– Cũng không cần đuổi đi. Ta thấy tình cảnh Ngữ Yên cùng A Bích rất không tốt. Chu tứ ca, ngày mai mời ngươi đến khố phòng chi năm nghìn lượng bạc, lặng lẽ tặng cho các nàng. Về sau nếu có gì cần thì cứ tiếp tục chi trợ. Không cần phải nói với ta.

Chu Đan Thần lĩnh mệnh đi làm việc. Đoàn Dự làm vua, thanh tĩnh vô vi, cảnh nội thái bình. Sau chàng lại bẩm báo bá phụ Bản Trần đại sư, đem thân thế của mình bí mật nói với bọn Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch những người thân tín, lập Mộc Uyển Thanh làm quý phi, Chung Linh làm hiền phi, Hiểu Lôi làm thục phi. Bọn Hoa Hách Cấn biết thân thế hoàng thượng là chuyện bí mật, tất cả đều giữ kín như bưng. Đoàn Dự được Mai Lan Trúc Cúc tứ nữ đồng ý, cũng được vợ chồng Hư Trúc tán thành, đem các nàng gả cho con trai của bọn Cao Thái Minh, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch.

Theo Đại Lý quốc sử ghi lại: Đại Lý (sử gọi là Hậu Lý) Hiến Tông Tuyên Nhân Đế Đoàn Dự, khi đăng cơ niên hiệu là Nhật Tân, sau lại đổi thành Văn Trì, Vĩnh Gia, Bảo Thiên, Quảng Vận, tổng cộng năm niên hiệu, sau đó thoái vị làm tăng, tổng cộng làm hoàng đế bốn mươi năm, truyền ngôi cho thái tử Đoàn Chính Hưng. Đoạn Chính Hưng sử gọi là Cảnh Tông Chính Khang Đế, sửa niên hiệu thành Vĩnh Trinh. Ông làm hoàng đế hai mươi lăm năm, cũng thoái vị làm tăng, truyện ngôi cho thái tử. Tính danh mẫu thân Đoàn Chính Hưng sử không ghi lại, là Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Hiểu Lôi, hay là tần phi khác sinh ra, không thể biết được.

0% Giáo đơn vu chiết tiễn - Lục quân tích dịch - Phấn anh hùng nộ

Cài đặt đọc

Chương trước
Chương sau