Nại thiên hôn địa áu - Đẩu chuyển tinh di
Mộ Dung Phục giơ tay chào Đinh Xuân Thu, miệng nói:
– Xin chào! Cuộc đời quả có duyên thì ở đâu cũng gặp, vừa mới chia tay đã lại thấy nhau rồi.
Đinh Xuân Thu cười nói:
– Quả là cùng công tử có duyên với nhau thật!
Y nghĩ thầm: “Người này tuy hậu bối bên thông gia của ta, nhưng ta đã đả thương mấy viên đại tướng thủ hạ của y, gã này đâu có thể nào bỏ qua cho ta? Nhà Mộ Dung Cô Tô được ta mang võ công bí kíp tới núi Vô Lượng, hơn nữa y lại được công phu tổ truyền, võ công cực kì uyên bác. Cái ngón “gậy ông đập lưng ông”, trong võ lâm ai cũng nói chắc như cua gạch, xem công phu y ném quân cờ quả cũng khá lắm. Khi y mải mê xem cờ bị ta dẫn vào ma chướng, đúng là cơ hội bằng vàng để trừ đi ngờ đâu lại bị người ta cứu. Xem ra tiểu tử này võ công cao siêu thật nhưng những pháp thuật khác thì chẳng biết gì”.
Đinh Xuân Thu quay lại nói với A Tử:
– Ngươi nói nếu như ta phế hết võ công, cắt đứt cân mạch, chặt chân chặt tay ngươi, ngươi thà chết ngay chứ nhất định không thổ lộ nơi giấu vương đỉnh, có phải thế không?
A Tử cực kỳ kinh hãi, run run đáp:
– Sư phụ khoan hồng đại lượng, chẳng nên… chẳng nên… chẳng nên để bụng… để bụng những lời nói nhăng nói xàm của đệ tử.
Mộ Dung Phục cười nói:
– Đinh tiên sinh, ông tuổi tác đã cao, chấp nhất làm gì với một đứa trẻ con? Mau lại đây, hai người mình cạn với nhau ba chén, đàm văn luận võ có phải thú không nào? Thanh lý môn hộ trước mặt người ngoài chẳng khiến mình nhẹ thể lắm sao?
Y tuy biết vai vế, đáng ra phải gọi Đinh Xuân Thu là “thái nhân bá”, nhưng quyết không nói thẳng ra. Đinh Xuân Thu chưa kịp trả lời thì một tên đệ tử phái Tinh Tú đã bực bội quát lên:
– Cái thứ ngươi thật chẳng biết trên biết dưới, sư phụ ta là võ lâm chí tôn, lẽ nào lại thèm đàm văn luận võ với thứ hậu sinh tiểu tử như ngươi? Ngươi có tư cách gì mà đòi nói chuyện tay đôi với thầy ta?
Lại thêm một gã khác phụ họa:
– Nếu như ngươi cực kỳ cung kính khấu đầu thỉnh giáo, Tinh Tú lão tiên có bụng dẫn dắt bọn hậu sinh, không chừng chỉ cho đôi ba miếng. Chứ còn như ngươi đòi đàm luận với lão tiên, ha ha, thật nực cười đến sái quai hàm mất? Ha ha!
Y mới cười được hai tiếng, vẻ mặt bỗng dưng thật là kỳ quái, một lát sau lại cười khan ha ha lần nữa, cười xong liền há hốc mồm, nhưng hoàn toàn không có tiếng nào phát ra, trên mặt nhuốm một màu ngụy bí, nụ cười đầy vẻ hoạt kê.
Bọn đệ tử phái Tinh Tú ai cũng biết y trúng phải Tam Tiếu Tiêu Dao Tán của sư phụ, người nào người nấy hoảng vía, lấm lét nhìn kẻ đồng môn cười xong ba tiếng rồi tắt thở, không dám thở mạnh, cúi gầm mặt xuống không dám chạm vào ánh mắt Đinh Xuân Thu, nghĩ bụng: “Câu nói của y không biết làm phật lòng sư phụ ra sao để đến nỗi người dùng thủ đoạn tàn độc giết ngay như thế? Mình phải ngẫm nghĩ
cho kỹ xem câu nói đó sai sót chỗ nào, chớ có đi vào vết xe đổ đó nữa”.
Đinh Xuân Thu trong bụng càng tức tối hơn, lại thêm chột dạ. Y vừa hỏi chuyện A Tử vừa hơi vung tay áo lên, tiềm vận nội lực đẩy bột phấn Tam Tiếu Tiêu Dao Tán bắn vào Mộ Dung Phục. Độc phấn đó vô hình lại không mùi vị gì, cực kỳ mịn màng, trời đang tối, trong quán ăn chỉ thấy mờ mờ, những tưởng Mộ Dung Phục dù võ công cao cường thì cũng chẳng thể phát giác, ngờ đâu không biết y dùng thủ đoạn gì mà lại đẩy chất độc Tam Tiếu Tiêu Dao Tán qua bên tên đệ tử của mình.
Chết một tên đệ tử cũng chẳng đáng bao nhiêu, nhưng Mộ Dung Phục đang cười cười nói nói, không thấy y giơ chân múa tay gì mà đã chuyển được qua người khác, hiển nhiên đó không phải là dùng nội lực phản kích khiến cho Đinh Xuân Thu tuy kiến văn rộng rãi nhưng nhất thời không nghĩ ra được đó là công phu gì. Trong bụng y chỉ nghĩ được mấy chữ: “gậy ông đập lưng ông”, thủ pháp Mộ Dung Phục sử dụng cũng tương tự như môn bắt ám khí rồi ném trả lại, tiếp tiêu phát tiêu, tiếp tiễn hoàn tiễn dùng vào việc bắt phấn độc rồi đẩy trở về. Thế nhưng độc phấn tinh vi như thế, sao y lại không bị nhiễm phải mà lại trả về được?
Y lại nghĩ ra: “Nếu nói là “gậy ông đập lưng ông” thì y phải đẩy Tam Tiếu Tiêu Dao Tán về mình mới phải, chắc là tiểu tử này còn e ngại lão tiên, không dám ngang nhiên vuốt râu hùm”. Tưởng đến vuốt râu hùm, y thuận tay giơ lên vuốt chòm râu nhưng chỉ cầm phải mấy sợi loe hoe ngắn ngủn đã cháy xém, trong lòng không bực tức mà lại vui: “Ta đợi lúc rảnh thì cạo hết chỗ râu còn lại, lại trông càng thêm trẻ. Đến như Tô Tinh Hà, Huyền Nạn lão hòa thượng là những cao thủ công lực như thế, vậy mà còn bị lão tiên hạ thủ chết đứ đừ, cái thứ Mộ Dung Phục miệng còn hôi sữa, thật có đáng gì đâu?”.
Đinh Xuân Thu bèn nói:
– Mộ Dung công tử cùng với ta quả là có duyên, lại đây nào, ta mời ngươi một chén rượu.
Nói xong nhẹ nhàng tiến đến, múa chưởng đánh ra. Mộ Dung Phục đã từng nghe đến Hóa Công Đại Pháp của y từ lâu, vội vàng tránh qua, Đinh Xuân Thu liên tiếp đánh ba chưởng, Mộ Dung Phục đều dùng thân pháp tiểu xảo tránh né được, hai bên không hề đụng vào nhau.
Hai người càng đánh càng nhanh, trong phạn điếm bày đầy bàn ghế, lối đi nhỏ hẹp, không có cách nào xoay chuyển, thế nhưng hai người vẫn theo những khe giữa hai bàn mà tới lui, không một tiếng động, quyền chưởng không giao tiếp đã đành mà đến bàn ghế cũng không đổ ngã cái nào.
Quần đệ tử phái Tinh Tú ai nấy đứng dựa vào tường, không ai dám bước chân ra khỏi cửa, sư phụ đang kịch đấu với kình địch, có ai lại dám tránh né ra xa, thế là phạm vào đại tội bất trung với sư môn còn gì. Mọi người ai cũng biết tình thế nguy hiểm, chỉ cần một chút chưởng phong quét phải thì khó mà sống được, ai cũng mong sao thân hình mình xẹp lại mỏng như giấy, dán chặt vào tường ngoài ra không còn cách nào khác. Thế nhưng thấy Mộ Dung Phục thủ nhiều công ít, chưởng pháp tuy tinh kỳ nhưng vì không dám đụng vào chưởng của Đinh Xuân Thu nên không khỏi bó chân bó tay, rơi vào thế hạ phong. Đám đệ tử trong lòng mừng thầm.
Sau mấy chiêu, Đinh Xuân Thu biết rằng Mộ Dung Phục không dám cùng mình đối chưởng hẳn là sợ Hóa Công Đại Pháp. Nếu đối phương đã sợ công phu này thì mình phải dùng nó để chế ngự y, có điều thân pháp Mộ Dung Phục phiêu hốt, ra chiêu khó mà đoán được nên muốn ép cho y phải đụng với mình kể cũng không phải dễ.
Lại thêm vài chưởng nữa, Đinh Xuân Thu đã nghĩ ra một cách, chưởng phải bay múa tung hoành, đánh ép tới, tay trái giả vờ không được linh hoạt nhưng cố ý che
đậy để cho Mộ Dung Phục khỏi biết.
Mộ Dung Phục võ công tinh thâm, đối phương mạnh yếu thế nào, lẽ nào lại không nhìn ra? Y nghiêng người lệch qua, đánh liên tiếp hai chưởng liền, thế mạnh như vũ bão tấn công thẳng vào hông bên trái Đinh Xuân Thu. Đinh Xuân Thu hự nhẹ một tiếng, lùi lại một bước nhưng không dám đưa chưởng trái ra đỡ đòn. Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Lão quái này không biết ngực và sườn bên trái bị nội thương sao đây”. Y đang đắc thắng nên không nhường nhịn gì nữa, làm như tấn công mạnh về bên hữu nhưng nội lực lại vận dụng toàn lực đánh vào bên tả.
Hai bên trao đổi thêm hơn hai chục chiêu nữa, tay trái Đinh Xuân Thu rút lẩn hẳn vào trong tay áo, chưởng phải biến thành trảo, giơ lên cào vào mặt Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục nghiêng qua tránh được, giơ quyền lên đánh thẳng vào sườn bên trái của đối phương. Đinh Xuân Thu nãy giờ vẫn chờ đòn này, sau cùng kẻ địch đã đánh ra, trong lòng mừng rỡ, vung tay áo lên cuốn lấy nắm tay của Mộ Dung Phục.
Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Tụ phong của ngươi dù có mạnh gấp mười lần cũng làm sao đả thương được ta?”. Y không rút quyền về mà lại vận kình lên cánh tay, chịu cho tay áo y cuốn được, nghe soẹt một tiếng dài, tay áo Mộ Dung Phục đã bị xé rách toạc một miếng lớn. Mộ Dung Phục còn đang kinh hãi, bỗng dưng tay bị rít lại, thì ra nắm tay đã bị đối phương chộp được rồi.
Chiêu đó quả là ngoài dự tính của Mộ Dung Phục, y lập tức kinh hãi hiểu ra: “Lão quái giả vờ bị thương ở bên trái, chẳng qua chỉ là kế dụ địch, hóa ra mình mắc lừa tên già này rồi”. Y trong lòng cảm thấy hối hận: “Ta chẳng qua tự cao tự đại, dám coi thường lão quái tên tuổi vang lừng này”. Lúc này đâu còn có thể lùi được nữa, bao nhiêu nội lực trong người lập tức chuyển lên đầu quyền tống ra.
Biết là độc tính Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu theo tay truyền vào kinh mạch, nội kình y không phát lên nổi giống như đã bị đối phương tiêu trừ. Mộ Dung Phục kêu thầm một tiếng: “Chết rồi!”. Y vẫn biết Đinh Xuân Thu là một cường địch nên từ khi bắt đầu giao đấu lúc nào cũng chăm chăm quyết không để đối phương sử dụng Hóa Công Đại Pháp, ngờ đâu đến lúc này không còn cách nào tránh được nữa. Hiện tại quả thực tiến thoái lưỡng nan, nếu tiếp tục vận kình kháng cự thì dù nội công cao cường đến đâu cũng sẽ bị y hóa giải chỉ trong giây lát công lực hết sạch, còn như bão nguyên thủ nhất, thu kình lực về thì những chất độc vô cùng ghê gớm của Đinh Xuân Thu sẽ theo chân khí xâm nhập tạng phủ kinh mạch.
Còn đang bàng hoàng vô kế bỗng từ sau có người lớn tiếng reo lên:
– Sư phụ xếp đặt thật khéo khiến cho tên tiểu tử thối tha kia bị hãm vào tuyệt cảnh.
Mộ Dung Phục vội vàng lùi lại hai bước, tay trái vươn ra, chộp ngay ngực tên đệ tử phái Tinh Tú. Trong gia số nã thủ tuyệt kỹ của Cô Tô Mộ Dung có một môn mượn sức đánh sức tên là Đẩu Chuyển Tinh Di, người ngoài không biết nguồn cơn thấy khoa gậy ông đập lưng ông của nhà Mộ Dung thật là tuyệt diệu, những người bị chết ai cũng bị chính ngay môn tuyệt nghệ thành danh của mình trở ngược vào thân, hiển nhiên bao nhiêu thần kỹ các môn phái, Cô Tô Mộ Dung đều tinh thông am hiểu. Thực ra trong võ lâm tuyệt kỹ có hàng nghìn hàng vạn môn, một người dù thông minh uyên bác đến đâu chăng nữa thì cũng không thể nào học hết mọi tuyệt kỹ được huống chi đã gọi là tuyệt kỹ thì chẳng thể một sớm một chiều mà luyện thành. Tuy nhiên nhà Mộ Dung có thuật Đẩu Chuyển Tinh Di nên dù đối phương đưa
ra công phu nào chăng nữa đều có thể di chuyển lực đạo, phản kích trở ngược lại mình.
Người giỏi về Phong Hầu Kiếm khi giơ ngọn giáo đâm vào cổ họng họ Mộ Dung, bị họ dùng môn Đẩu Chuyển Tinh Di xoay lại, mũi thương đó sẽ đâm ngay vào yết hầu của mình, cách sử dụng, kình lực phép tắc đều hoàn toàn do yếu quyết bí truyền của bản môn; người giỏi về Đoạn Tí Đao khi múa đao chém xuống thì lại chém phải chính cánh tay mình. Binh khí nào thì dùng chính binh khí đó, chiêu số nào cũng chính chiêu số đó. Nếu người ta không chính mắt trông thấy người nhà Mộ Dung dùng môn Đẩu Chuyển Tinh Di này thì có ai đoán ra được tại sao người đó bỏ mạng, thực ra cũng chỉ là “tự sát” mà thôi. Mộ Dung Phục được đích thân cha truyền nghệ, hai cha con bí mật khổ luyện sách chiêu trong hầm đất ở Tham Hợp Trang, người ngoài không hề biết. Cô Tô Mộ Dung danh chấn giang hồ mà công phu chân chính thế nào có ai biết đến đâu?
Đem binh khí quyền cước của đối thủ chuyển hoán phương hướng để cho kẻ địch mình làm mình chịu, nguyên tắc chẳng qua chỉ là “bật ngược trở về”, chẳng khác gì một người giơ tay đấm vào tường đá, ra tay càng mạnh thì quyền đầu bị chấn lực càng đau. Có điều chuyển hoán binh khí quyền cước là vật hữu hình thì dễ, còn chuyển hoán thứ vô hình vô chất như nội lực khí công mới cực kỳ khó khăn. Mộ Dung Phục tuy tập luyện công phu này đã nhiều năm nhưng vì tuổi còn trẻ nên vẫn chưa đạt đến cảnh giới đăng phong tạo cực, gặp phải hạng cao thủ số một như Đinh Xuân Thu, biết không cách nào dùng Đẩu Chuyển Tinh Di bật ngược lại đả thương đối phương được nên dùng Đẩu Chuyển Tinh Di cũng chỉ giết được đệ tử của phái Tinh Tú mà thôi. Y có chuyển có di đấy nhưng cũng chỉ chuyển di sang người thứ ba mà thôi.
Lúc này Mộ Dung Phục bị khốn bởi Hóa Công Đại Pháp, nghĩ cách nào di chuyển tuyệt chiêu của đối phương, may sao có gã đệ tử kia lên tiếng nịnh nọt lấy lòng thầy, vừa há miệng kêu lên nên đã cho y biết được mình đang ở đâu. Mộ Dung Phục trong cơn gấp gáp, không còn thì giờ đâu mà nghĩ ngợi, chộp ngay được tên đệ tử kia, lập tức xoay ngang hất dọc, đẩy khí thay kình đem gã đó ra thế chỗ mình. Y mạo hiểm thi triển may sao hiệu quả, Tinh Tú Lão Quái vốn chủ tâm “hóa” công lực của Mộ Dung Phục, ngờ đâu chất độc truyền ra lại “tán” ngay công phu bản môn của đứa học trò.
Mộ Dung Phục thử một lần thành công, thật đúng là chết đi sống lại, lập tức chụp ngay lấy cơ hội, không để cho Đinh Xuân Thu có dịp suy nghĩ, đẩy luôn tên đệ tử phái Tinh Tú cho đụng vào một gã đệ tử khác. Công lực của tên đệ tử thứ hai cũng lập tức bị chất độc Hóa Công Đại Pháp của Đinh Xuân Thu phong bế ngay. Đinh Xuân Thu đã thấy Mộ Dung Phục dùng công phu tá lực đả lực chuyển sang đệ tử của mình, càng thêm phẫn nộ, nghĩ thầm: “Ta nếu như vì bảo toàn cho mấy đứa học trò bị thịt này mà buông y ra, muốn bắt lại thật khó bằng lên trời, phái Tinh Tú thua đứt đuôi, Tinh Tú lão tiên còn mặt mũi nào dương uy Trung Nguyên?”.
Y bèn tăng thêm kình lực vào năm ngón tay, nhất định không buông Mộ Dung Phục, độc chất theo lòng bàn tay không ngừng tuôn ra. Mộ Dung Phục lại lùi thêm mấy bước, dính chặt thêm một gã đệ tử phái Tinh Tú nữa, độc chất Hóa Công Đại Pháp lập tức chuyển sang người hắn. Chỉ trong khoảnh khắc, ba tên đệ tử đã nằm bẹp dưới đất. Những tên còn lại kinh hãi quá, thấy Mộ Dung Phục tiến đến gần, ai nấy kêu thất thanh, bỏ chạy tán loạn.
Mộ Dung Phục hất tay một cái, ba tên đệ tử phái Tinh Tú bay tung ra, tên thứ ba
lại dụng ngay vào một gã khác. Gã đó kinh hoảng vừa mới há miệng kêu lên thì người đã nhũn ra rồi. Những đệ tử còn lại ai ai cũng đều nhìn rõ, nếu sư phụ không thả Mộ Dung Phục ra thì tên tiểu tử này tiếp tục mượn sức đả thương người, bao nhiêu đệ tử đều bị Tinh Tú lão tiên “hóa” hết, rồi thể nào cũng đến lượt mình, nhưng ngoài việc khiếp đảm ra, chẳng một ai dám bỏ chạy nên chỉ lẩn quẩn ở bên trong quán, chui qua trốn lại như chuột để khỏi mang họa vào thân. Cái tiểu điếm đó đâu có rộng bao nhiêu, thành thử Mộ Dung Phục vung tay ra là lại trúng được ba bốn tên khác.
Đinh Xuân Thu thấy môn hạ đệ tử của mình chật vật chạy trốn, không còn ai buông lời tán tụng mình nữa. Y nổi giận nghĩ thầm: “Chỉ cần thắng được Cô Tô Mộ Dung thì cũng là chuyện chấn động thiên hạ rồi. Còn thu đệ tử thì trên đời này còn gì sợ thiếu?’. Y đưa mắt nhìn khắp bốn bề thấy trong đám đệ tử chỉ còn hai người không theo những người khác trốn lánh. Một người là Du Thản Chi, nép mình tại một góc nhà, chui đầu sắt vào giữa hai tay, hiển nhiên cực kỳ sợ hãi. Còn một người nữa là A Tử, mặt mày nhợt nhạt, cũng ngồi một góc xem hai người đấu với nhau. Đinh Xuân Thu quát lên:
A Tử đang xem đến xuất thần, có ngờ đâu sư phụ lại gọi đến, ngẩn người ra rồi đáp:
– Sư phụ, Tinh Tú tiểu tiên đại triển thần úy…
Nàng chỉ mới nói được nửa câu bỗng ngượng nghịu cười ruồi, không dám nói tiếp. Sư phụ lão nhân gia quả có đại triển thần uy thế nhưng đả thương toàn người của mình, có gì đáng ca tụng đâu, nhất thời khó dùng lời lẽ gì tán dương được. Đinh Xuân Thu chưa thanh toán được Mộ Dung Phục vốn đang hết sức nóng ruột, A Tử gọi mình là “Tinh Tú tiểu tiên”, cách gọi này tuy không sai, nhưng thấy nụ cười của A Tử có chiều diễu cợt, càng thêm cuồng nộ, cánh tay áo bên trái liền phất một cái, bật tung hai chiếc đũa trên bàn, bắn thẳng vào mắt A Tử. A Tử kêu lên:
Nàng vội vàng vung tay đánh tạt hai chiếc đũa ra nhưng vẫn chậm mất một bước, đầu đũa đã điểm trúng, chỉ thấy vừa ngứa vừa tê, vội đưa tay áo lên chùi, mở mắt ra trước mắt chỉ một màu trắng loang loáng di động, chỉ giây lát vùng trắng sáng biến mất chỉ còn một màu đen như mực. Nàng sợ đến hồn vía lên mây, kêu ầm lên:
– Ta… mắt ta… mắt ta không… không thấy gì nữa.
Đột nhiên một luồng hàn khí thốc vào người, rồi tiếp theo là một cánh tay vòng qua ôm ngang lưng cô gái, một người nào đó đã bồng nàng bỏ chạy. A Tử kêu lên:
– Mắt… mắt ta…
Ở phía sau nghe bình một tiếng, dường như song chưởng đụng nhau, A Tử cảm thấy mình như đằng vân giá vụ bay bổng lên, trong cơn mơ màng, nghe loáng thoáng có tiếng Mộ Dung Phục nói:
– Thôi ngừng tại đây, Tinh Tú Lão Quái, sau này…
A Tử cảm thấy lạnh buốt thấu xương, bên tai gió ù ù thổi, một người còn lạnh hơn băng bồng mình chạy vùn vụt. Nàng lạnh đến răng đập vào nhau lách cách, rên rỉ:
– Lạnh quá… mắt ta… lạnh… lạnh quá mất thôi… Người kia đáp:
– Được, được. Mình chạy đến khu rừng kia, Tinh Tú lão tiên không tìm thấy đâu. Y miệng nói nhưng chân vẫn chạy băng băng. Một hồi sau, A Tử thấy y ngừng lại,
nhè nhẹ bỏ nàng xuống, dưới lưng nghe tiếng loạt soạt hóa ra đã để nàng nằm trên một đống lá khô. Người kia nói:
– Cô nương, mắt… mắt cô ra sao?
A Tử chỉ thấy đôi mắt đau đớn khôn tả, cố hết sức nhướng mắt lên nhưng không thấy gì cả, tất cả trời đất nay chỉ còn một màu đen kịt mới hay rằng mắt nàng đã bị Đinh Xuân Thu dùng độc dược làm mù mất rồi, đột nhiên khóc òa lên, kêu la rầm rĩ:
– Mắt… mắt ta mù rồi. Người kia dịu giọng an ủi:
– Xem chừng có thể trị khỏi được! A Tử bực tức đáp:
– Thuốc độc của Đinh lão quái lợi hại biết chừng nào, làm sao trị được? Ngươi lừa ta! Mắt ta đui rồi, mắt ta đui rồi!
Nói xong lại khóc tức tưởi. Người kia nói:
– Bên kia có dòng suối nhỏ, mình đến đó rửa cho sạch thuốc độc trong mắt đi. Nói xong cầm tay nàng, nhẹ nhàng kéo lên. A Tử chỉ thấy bàn tay y lạnh ngắt, tự nhiên rụt về, người đó liền buông ra. A Tử đi được hai bước, vấp một cái lảo đảo muốn té. Người kia nói:
– Coi chừng!
Rồi lại đưa tay đỡ nàng. Lần này A Tử không giật tay về nữa, để mặc y dẫn đến bên dòng nước. Người kia nói:
– Cô đừng sợ, đây là bờ suối đó!
A Tử quỳ xuống bên khe nước, hai tay vốc nước lên rửa mắt. Dòng nước mát rượi thấm vào mắt, đau đớn giảm dần nhưng trời đất vẫn tối tăm, trước mắt không một chút sáng sủa nào hết. Trong cùng một lúc, tuyệt vọng, đau thương, bơ vơ, phẫn nộ, bao nhiêu mối cùng kéo tới, nàng ngồi phịch xuống đất, khóc rưng rức, hai chân đạp lung tung:
– Ngươi dối ta, ngươi dối ta, mắt ta mù hẳn rồi, mắt ta mù hẳn rồi! Người kia nói:
– Cô nương, cô đừng quá đau lòng! Ta không bỏ cô mà đi đâu, cô… cô cứ yên tâm.
A Tử thấy tạm nguôi ngoai, hỏi lại:
– Ngươi… ngươi là ai? Người kia đáp:
– Ồ xin lỗi, cảm ơn ông đã cứu mạng ta. Chẳng hay cao tính đại danh của các hạ là gì?
Người kia ấp úng:
– Ta… ta… cô nương không nhận ra ta sao? A Tử nói:
– Đến tên họ ông còn chẳng cho ta hay, vậy mà dám xí gạt nói là sẽ không bỏ ta mà đi. Mắt… mắt ta mù rồi, chỉ… chỉ có nước chết quách cho xong.
Nói xong lại khóc òa lên. Người kia vội gạt đi:
– Cô nương muôn ngàn lần chớ có chết. Ta… ta quả thật mãi mãi sẽ không bao giờ rời xa cô. Chỉ cần cô nương bằng lòng cho ta đi theo, ta vĩnh viễn… vĩnh viễn ở bên cạnh cô nương.
– Ta không tin! Ngươi gạt ta, ngươi gạt ta để ta không tìm cái chết. Ta muốn chết, mắt ta mù rồi, còn sống làm gì nữa?
Người kia lắp bắp:
– Ta nhất quyết không đánh lừa cô đâu, nếu ta bỏ cô thì cho ta chết đường chết chợ.
Giọng y hốt hoảng xem ra thật là thành khẩn. A Tử hỏi lại:
– Thế ngươi là ai? Người kia đáp:
– Ta là Tụ Hiền Trang… không, không phải, ta họ Trang, tên Tụ Hiền.
Người cứ được A Tử chính là thiếu trang chủ của Tụ Hiền Trang Du Thản Chi. A Tử nói:
– Hóa ra là Trang… Trang tiền bối, đa tạ tiền bối đã cứu tiểu nữ. Du Thản Chi đáp:
– Tại hạ cứu được cô nương khỏi độc thủ của Đinh Xuân Thu, lòng mừng vô hạn, cô nương chẳng phải tạ ơn làm gì. Tại hạ cũng không phải tiền bối của cô nương, chỉ lớn hơn cô nương vài tuổi.
– Ồ, vậy thì tiểu muội gọi là Trang đại ca.
Du Thản Chi vui mừng không sao kể xiết, lắp bắp:
– Cái đó… cái đó không dám. A Tử nói:
– Trang đại ca, tiểu muội cầu đại ca một việc. Du Thản Chi đáp:
– Cô đừng nói cầu hay không cầu, cô nương có điều gì sai khiến, dù phải hi sinh tính mạng, tại hạ cũng nhất quyết làm cho cô nương.
A Tử mỉm cười hỏi lại:
– Huynh với ta vốn không quen biết, sao huynh đối với ta tốt như thế? Du Thản Chi lập cập đáp:
– Phải, phải, xưa nay không quen biết gì cả, tại hạ chưa từng gặp cô nương, cô nương cũng chưa từng gặp tại hạ. Lần này… hôm nay mới gặp mặt lần đầu.
A Tử buồn bã nói:
– Còn nói gì đến gặp mặt? Ta vĩnh viễn không bao giờ thấy mặt huynh đâu. Nói đến đây nhịn không nổi nước mắt lại rơi lã chã. Du Thản Chi vội đáp:
– Cái đó cũng chẳng hề gì. Không thấy ta lại càng tốt. A Tử hỏi lại:
Du Thản Chi nói:
– Ta… ta mặt mày khó coi lắm, cô nương nếu trông thấy e rằng sẽ mất vui. A Tử lặng lẽ mỉm cười nói:
– Huynh lại gạt ta rồi. Người xấu xí khó coi nhất đời này ta đã từng thấy nhiều lắm. Ta có một đứa đầy tớ, đầu đeo một cái lồng sắt, vĩnh viễn không thể nào gỡ ra được, thế mới thực là khó coi chứ. Nếu như huynh thấy y thì huynh sẽ phải cười đến ba ngày ba đêm. Huynh có muốn xem không?
Du Thản Chi run run đáp:
– Không! Không! Ta không xem đâu.
Y nói nhưng không ngăn nổi tự nhiên lùi lại hai bước. A Tử nói:
– Huynh bồng ta chạy nhanh chẳng kém gì tỉ phu ta, võ công giỏi vậy mà sao nhát thế, đến người đầu sắt cũng không dám coi. Trang đại ca, người đầu sắt đó ngộ
nghĩnh lắm, để ta bảo y lộn mèo cho huynh coi, bảo y đưa đầu vào lồng sư tử, lồng cọp cho dã thú cắn. Ta sẽ bảo người ta đem y ra làm diều phóng trên không, thật là thú vị.
Du Thản Chi bất giác rùng cả mình, luôn mồm kêu:
– Ta không muốn coi, ta thực sự không muốn coi. A Tử thở dài:
– Thôi được. Huynh vừa mới bảo bất luận ta muốn gì, dù phải bỏ mạng huynh cũng làm, hóa ra cũng chỉ để xí gạt ta thôi.
Du Thản Chi đáp:
– Không, không! Ta không nói láo đâu. Cô nương bảo ta làm gì? A Tử nói:
– Ta muốn về ở bên cạnh tỉ phu, huynh ấy ở Nam Kinh nước Liêu. Trang đại ca, nhờ huynh đưa ta về.
Nàng vừa nói thế, đầu óc Du Thản Chi trở nên hỗn loạn nhưng không dám nói nên lời. A Tử hỏi:
– Sao? Huynh không chịu ư? Du Thản Chi ấp úng:
– Không phải… không chịu, có điều… có điều ta không muốn… không muốn đến Nam Kinh nước Liêu.
– Ta bảo huynh đến xem gã hề đầu sắt, huynh không chịu, bảo huynh đưa ta về với tỉ phu ta, huynh cũng không chịu. Thôi thế thì ta đi một mình vậy.
Nói xong nàng chậm rãi đứng lên, hai tay đưa ra đằng trước mò đường. Du Thản Chi nói:
– Để ta đi với cô! Cô đi một mình… sao được?
Du Thản Chi cầm bàn tay nhỏ nhắn mịn màng của A Tử, dẫn nàng ra khỏi khu rừng, trong bụng chỉ nghĩ: “Chỉ cần mình được nắm tay nàng đi chầm chậm như thế này, thì dù phải đến mười tám tầng địa ngục thì ta vẫn hết sức hài lòng”. Đến khi hai người ra tới đường cái, nhìn lên thấy có một đám ăn mày, người đi đầu thân hình gầy cao, tướng mạo thanh tú, chính là Cái Bang Đại Trí phân đà đà chủ Toàn Quan Thanh. Du Thản Chi nghĩ thầm: “Gã này hôm trước bị sư phụ ta đả thương, hóa ra không chết”. Y không muốn gặp bọn này, vội vàng dẫn A Tử rời đại lộ, đi vào phía đồng hoang. A Tử thấy đường lồi lõm không phẳng bèn hỏi:
– Cái gì thế?
Du Thản Chi chưa kịp trả lời, Toàn Quan Thanh đã trông thấy hai người, rảo bước đi tới chặn lại, hầm hầm gặng hỏi:
– Làm gì mà lấp lấp ló ló ở đây? Ngươi… ngươi hình dáng kỳ quái, làm cái trò gì?
Du Thản Chi hoảng hốt nghĩ thầm: “Nếu như y gọi ra ba chữ “thằng đầu sắt” thì A Tử cô nương biết ngay mình là ai, sẽ không còn để ý gì đến mình nữa. Dẫu nàng có bằng lòng cho mình đưa về Nam Kinh thì cũng không bao giờ để cho mình nắm tay nữa”. Y đột nhiên quỳ phục xuống, lạy như tế sao, tay chỉ trỏ lung tung yêu cầu Toàn Quan Thanh đừng nói lộ chân tướng mình ra.
Toàn Quan Thanh chẳng hiểu y ra hiệu để làm gì, lạ lùng hỏi:
– Ngươi làm gì thế?
Du Thản Chi chỉ vào A Tử, xua xua tay, lại chỉ vào mồm mình, xua xua tay, rồi lại lạy mấy cái. Toàn Quan Thanh nhìn ra A Tử đã bị mù, hiểu ra gã đầu sắt này xin mình đừng nói, còn đang ngạc nhiên, các đệ tử Cái Bang đã chạy ùa đến. Một
người chỉ vào đầu Du Thản Chi, cười hềnh hệch kêu lên:
– Lạ chưa kìa, gã này đầu…
Du Thản Chi tung mình nhảy tới, chưởng đánh ra. Gã đệ tử Cái Bang vội đưa tay lên đỡ, chỉ nghe lắc cắc mấy tiếng, xương cánh tay lẫn xương sườn đều gãy vụn, thân hình bắn tung về sau cả trượng, nằm gục xuống đất, chết tươi ngay.
Bọn ăn mày vừa kinh hãi vừa tức giận, lập tức năm người khác xông lên tấn công Du Thản Chi. Du Thản Chi song chưởng vung lên, đánh đấm lung tung. Võ công y tuy thấp kém thua xa đệ tử Cái Bang nhưng thủ chưởng đến đâu, chỉ nghe lắc cắc, lộp cộp liên hồi, “Chết rồi!”, “Chao ôi!”, bình bình bình, bịch bịch, cả năm tên đều văng ra, rơi xuống chết cả. Bọn còn lại hết sức kinh hoàng, lập tức vây quanh Du Thản Chi và A Tử nhưng không kẻ nào dám xông lên tấn công.
Du Thản Chi đột nhiên lại quay về phía Toàn Quan Thanh quỳ xuống, lạy như tế sao, rồi lại giơ tay chỉ trỏ, chỉ vào A Tử, lại chỉ vào cái đầu sắt của mình, không ngớt xua tay.
Toàn Quan Thanh thấy y giơ tay lên đã giết được sáu bang chúng Cái Bang, công lực thâm hậu, quả thực bình sinh ít thấy, đến như mình có tiến lên động thủ, chưa chắc đã thắng được y, thế nhưng y lại lạy lục mình, quả không sao hiểu nổi, bèn cũng ra hiệu lại, chỉ vào A Tử, chỉ vào đầu sắt của y, rồi chỉ vào mồm mình, xua xua tay.
Du Thản Chi mừng quá, gật đầu liên tiếp. Toàn Quan Thanh trong lòng chợt nghĩ: “Gã này võ công cực kỳ cao siêu nhưng lại sợ ta tiết lộ chuyện bí mật của y, xem chừng mình có thể nhân chuyện này ép y vào việc mình có thể dùng được”. Y bèn quay sang nói với các thủ hạ:
– Tất cả không ai được nói năng gì, tất cả mọi việc để cho ta hỏi chuyện. Du Thản Chi lại càng mừng rỡ, lạy thêm mấy cái nữa. A Tử hỏi:
– Trang đại ca, bọn nào thế? Huynh đánh chết mấy người phải không? Du Thản Chi nói:
– Đây là các hảo bằng hữu của Cái Bang, chẳng qua chỉ hiểu lầm một chút. Vị Đại Trí phân đà Toàn đà chủ đây nhân nghĩa hơn người, tốt bụng lắm, trước nay ta vẫn hết sức khâm phục. Ta… ta lỡ tay giết chết mấy vị huynh đệ, quả thực vô cùng ân hận.
Nói xong chắp tay tạ tội với bọn người Cái Bang. A Tử hỏi:
– Trong Cái Bang cũng có người tốt sao? Trang đại ca, huynh võ công cao siêu như thế, chi bằng giết sạch bọn chúng đi, để cho tỉ phu ta đỡ tức.
Du Thản Chi vội đáp:
– Ấy chết, không được, cái đó chẳng qua chỉ hiểu lầm. Ta với Toàn đà chủ là hảo bằng hữu. Cô ở đây đợi, ta đi với Toàn đà chủ nói cho rõ sự tình.
Nói xong đưa tay vẫy vẫy Toàn Quan Thanh. Toàn Quan Thanh thấy y nhận ra mình, càng thêm lạ lùng, nhưng xem ra không có gì ác ý, nên cũng theo y đi ra ngoài hơn mười trượng. Du Thản Chi thấy mình đi cách A Tử cũng đã xa, nàng không thể nào nghe được mình nói những gì nhưng lại sợ bọn ăn mày làm hại nàng, không dám đi thêm nữa nên ngừng lại, chắp tay nói:
– Toàn đà chủ, nhờ có ông ẩn dấu chân tướng cho ta, đại ân đại đức đó quyết không dám quên.
Toàn Quan Thanh đáp:
– Nguyên do bên trong, huynh đệ thật chẳng hiểu gì hết. Tôn huynh cao tính đại danh là gì?
Du Thản Chi nói:
– Huynh đệ họ Trang, tên gọi Trang Tụ Hiền, chỉ vì bản thân gặp chuyện không may, trên đầu mới đeo cái của quỷ này, thành thử chẳng thể nào cho vị cô nương đó biết được.
Toàn Quan Thanh thấy y trong khi nói đưa mắt nhìn A Tử với vẻ cực kỳ quan thiết, cũng đoán ra được bảy tám phần: “Cô nương kia thanh nhã tú lệ, gã này đem lòng yêu mến cô ta, sợ nàng biết y hình dáng quái dị, có cái đầu sắt”. Y bèn hỏi:
– Trang huynh làm sao lại biết đến tại hạ? Du Thản Chi đáp:
– Khi Đại Trí phân đà của quý bang tụ hội bàn tính chuyện suy tuyển người làm bang chủ, huynh đệ ở cạnh bên, nghe thấy người ta gọi Toàn đà chủ. Hôm nay huynh đệ lỡ tay đánh chết mấy vị huynh đệ của quý bang, quả là… quả là sai quấy, mong Toàn đà chủ lượng thứ cho.
Toàn Quan Thanh nói:
– Chúng ta ai chẳng có lúc lầm lẫn, có gì đáng quan tâm đâu. Trang huynh, cái vật huynh đài mang trên đầu, huynh đệ quyết không nói ra. Để tại hạ dặn thuộc hạ không ai được tiết lộ chút phong thanh nào cả.
Du Thản Chi cảm kích muốn chảy nước mắt, liên tiếp chắp tay vái nói:
– Đa tạ! Đa tạ!
Toàn Quan Thanh nói tiếp:
– Thế nhưng Trang huynh cùng cô nương đó dắt tay nhau đi trên đường, khó mà không để cho người khác trông thấy, ắt có người kinh hoảng kêu la rầm lên, dù cho Trang huynh có giết đi thì cũng không kịp.
Du Thản Chi đáp:
– Đúng lắm! Đúng lắm!
Y từ khi cứu được A Tử, thần hồn phiêu đãng nên quên khuấy mất chuyện đó, bây giờ nghe Toàn Quan Thanh nói không biết phải tính thế nào, ngượng nghịu nói:
– Ta… ta chỉ có nước đưa nàng tới một nơi thâm sơn cùng cốc trốn ở đó thôi. Toàn Quan Thanh mỉm cười nói:
– Chỉ e cô nương này khởi nghi, vả lại, sau khi Trang huynh với cô ta kết thành đôi lứa, sớm muộn gì cũng phải biết thôi.
Du Thản Chi ngực như sôi lên ấp úng:
– Kết thành đôi… đôi lứa ư, ta nào dám nghĩ đến, chắc… chắc không được rồi, ta đâu… đâu có xứng? Chẳng qua… chẳng qua… ư quả là khó thật.
Toàn Quan Thanh nói:
– Trang huynh, nếu như không hiềm thì cùng huynh đệ kết thành bằng hữu, bạn bè có chuyện khó khăn thì phải lo liệu giúp nhau. Chi bằng mình đến thị trấn trước mặt, thuê một cỗ xe, ngươi cùng cô nương đó ngồi trong xe, chẳng ai thấy được hai người.
Du Thản Chi mừng lắm, nghĩ đến việc được cùng A Tử ngồi chung một xe, thật thần tiên cũng không bằng, vội đáp:
– Đúng, đúng rồi! Ý kiến đó của Toàn đà chủ cao minh lắm. Toàn Quan Thanh nói tiếp:
– Sau này mình tìm cách tháo cái mũ sắt trên đầu Trang huynh đi, huynh đệ vỗ ngực bảo đảm, vị cô nương đó vĩnh viễn không bao giờ biết được chuyện đáng hổ thẹn đó của Trang huynh đâu, ngươi nghĩ sao?
Cộp một tiếng, Du Thản Chi đã quỳ mọp xuống, hướng về Toàn Quan Thanh liên tiếp rập đầu, chiếc lồng sắt chạm xuống đất kêu boong boong. Toàn Quan Thanh cũng
quỳ xuống hoàn lễ, nói:
– Trang huynh hành đại lễ như thế này, huynh đệ làm sao dám nhận? Nếu như Trang huynh không hiềm, hai đứa mình kết nghĩa kim lan, nên chăng?
Du Thản Chi mừng rỡ nói:
– Hay lắm! Hay lắm! Tiểu đệ chuyện gì cũng không thông, có được một huynh trưởng túc trí đa mưu chỉ điểm cho đường ngay nẻo sáng, quả thật cầu còn không được.
Toàn Quan Thanh cười hà hà nói:
– Người ca ca này hơn ngươi vài tuổi, thôi chẳng khách sáo gì gọi ngươi một tiếng huynh đệ nhé.
Trong khi Đinh Xuân Thu và Tô Tinh Hà đánh nhau trời long đất lở như thế, mắt Đoàn Dự trước sau vẫn không rời Vương Ngữ Yên, còn Vương Ngữ Yên thì lại đầy vẻ tình ý đăm đăm như dán vào người biểu ca. Thành thử ánh mắt Đoàn Vương hai người thủy chung cũng vẫn chưa hề chạm nhau. Đến khi Đinh Xuân Thu đại bại bỏ chạy, Hư Trúc hội ngộ với người của phái Tiêu Dao, bọn Mộ Dung Phục bỏ đi, Đoàn Dự cũng mê mê mẩn mẩn lẽo đẽo theo Vương Ngữ Yên. Xuống dưới chân núi rồi, Mộ Dung Phục quay sang chắp tay chào Đoàn Dự:
– Hôm nay may mắn được biết Đoàn huynh, giờ xin từ biệt, ngày sau mong lại gặp nhau.
Đoàn Dự lập cập nhắc lại:
– Vâng! Vâng! Hôm nay may mắn được biết, giờ xin từ biệt, ngày sau mong lại gặp nhau.
Miệng nói nhưng mắt vẫn chăm chăm không rời khỏi thân hình Vương Ngữ Yên. Mộ Dung Phục cảm thấy khó chịu, hừ một tiếng, quay người bước đi. Đoàn Dự vẫn lưu luyến lọt tọt theo sau. Bao Bất Đồng giơ tay chặn ngang Đoàn Dự nói:
– Đoàn công tử, hôm nay công tử ra tay tương trợ chủ nhân chúng ta, Bao mỗ xin đa tạ.
Đoàn Dự đáp:
– Có gì đâu mà phải khách sáo. Bao Bất Đồng tiếp:
– Việc này đã cảm tạ rồi, hai bên không còn nợ nần gì nhau nữa. Thế nhưng mắt ngươi chăm chăm không rời Vương cô nương, đã vô lễ lắm rồi, bây giờ lại còn toan đi theo, thì thật hết chỗ nói. Ngươi là kẻ đọc sách, sao không biết câu: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật hành” hay sao? Bao mỗ lúc này trên người không có một chút lực khí nào nhưng vẫn còn cái miệng để chửi đấy nhé.
Đoàn Dự thở dài, lắc đầu:
– Nếu đã nói thế, Bao huynh cũng nên “phi lễ vật ngôn”, còn ta thì đành “phi lễ vật căn” vậy.
Bao Bất Đồng cười sằng sặc nói:
– Ngươi nói phải lắm!
Nói xong y quay lại chạy theo bọn Mộ Dung Phục. Vương Ngữ Yên ngảnh đầu lại Mộ Dung Phục nói thầm, hoàn toàn không để ý tới Đoàn Dự có đi hay không.
Đoàn Dự đưa mắt nhìn theo Vương Ngữ Yên đến khi bóng nàng khuất sau rừng cây nhưng vẫn ngơ ngẩn như người mất hồn. Chu Đan Thần nói:
– Công tử, mình đi thôi. Đoàn Dự đáp:
– Ừ, thì đi vậy.
Nói thế nhưng chàng vẫn đứng yên, đến lúc Chu Đan Thần giục giã đến ba lần mới
uể oải trèo lên con ngựa Cổ Đốc Thành dắt lại. Chàng tuy đã ngồi trên lưng ngựa nhưng mắt vẫn hướng về lối Vương Ngữ Yên vừa đi.
Hôm đó Đoàn Dự đưa thư cho Toàn Quan Thanh rồi vội chạy đến bái kiến Đoàn Chính Thuần. Đợi đến kỳ hẹn đánh cờ, được phụ thân đồng ý liền cùng bọn Chu Đan Thần phó hội. Quả nhiên không phụ tấm lòng mong mỏi, nơi kỳ hội chàng được thấy lại ý trung nhân. Thế nhưng gặp nhau chỉ thêm sầu khổ, gặp hay không gặp đằng nào hơn, chính chàng cũng không biết nữa.
Đoàn người đi chừng hơn hai chục dặm bỗng thấy trước mặt bui bay tung, khoảng hơn chục người cưỡi ngựa chạy đến, chính là Tam Công nước Đại Lý Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch cùng đám người Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi. Những người đó tới gần nhảy xuống ngựa hành lễ với Đoàn Dự. Nguyên là sư thúc, sư điệt Thôi Bách Tuyền đang ở núi Phục Ngưu biết tin Trấn Nam Vương Đại Lý đến Hà Nam, dưỡng thương ở gần núi Phục Ngưu, liền đến bái kiến, vừa lúc bọn Hoa Hách Cấn phụng mệnh Đoàn Chính Thuần đến tiếp ứng Đoàn Dự, sợ rằng trong hội cờ của Lung Á tiên sinh có gì hung hiểm chăng, lại cũng đang trên đường tới đây. Những người đó nghe thấy Đoàn Diên Khánh cũng có mặt, cũng may không hạ thủ Đoàn Dự, ai nấy đều nổi da gà.
Chu Đan Thần nói nhỏ với bọn Phạm Hoa là Đoàn Dự ở trong kỳ hội gặp một cô gái xinh đẹp của nhà Mộ Dung Cô Tô, ngơ ngẩn nhìn không chớp mắt, mất hồn mất vía, lại định đi theo, cũng may đối phương trách cứ mới thôi. Bọn Phạm Hoa nhìn nhau cười tủm tỉm, đều nghĩ: “Tiểu vương tử phong lưu đã quen, quả là con dòng cháu giống. Thế nhưng nếu vậy mà quên được chuyện nhớ nhung cô em gái thì cũng là điều hay lắm”. Đên chiều hôm đó, cả đoàn người ở lại khách điếm ăn cơm. Phạm Hoa kể lại chuyến đi Giang Nam, nói:
– Công tử gia, nhà Mộ Dung xem ra vô cùng ngụy bí, sau này nếu gặp họ phải thật cẩn thận mới được.
Đoàn Dự hỏi lại:
– Sao thế? Phạm Hoa đáp:
– Lần này ba anh em chúng ta phụng tướng lệnh của vương gia, đến nhà Mộ Dung ở Yến Tử Ổ đất Tô Châu tra xét, xem có chút dấu vết gì không, Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm có thực là bị nhà Mộ Dung hạ sát chăng. Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi hết sức quan tâm, cùng lên tiếng hỏi:
– Ba vị có tra xét được chút nào không? Phạm Hoa đáp:
– Chúng ta ba người không ngang nhiên đến bái kiến, chỉ tra xét ngầm thôi, trong nhà Mộ Dung không thấy chủ nhân nam nữ đâu cả, chỉ còn toàn đầy tớ lão bộc. Cả mấy tòa trang viện to lớn dường ấy mà chỉ có một cô gái nhỏ tên là A Bích trông nom quán xuyến mọi việc.
Đoàn Dự gật đầu nói:
– Ừ, A Bích cô nương là người rất tốt, các vị không làm gì tổn thương cô ta chứ?
Phạm Hoa mỉm cười:
– Không đâu, chúng ta tra xét luôn mấy đêm liền, chỗ nào trong trang viện nhà Mộ Dung cũng có đến, không thấy điều gì khác lạ cả. Ba huynh đệ đột nhiên nghĩ ra, gã phiên tăng Cưu Ma Trí mời công tử từ Đại Lý đến Giang Nam, nói là đem đến tế Mộ Dung tiên sinh…
Thôi Bách Tuyền ngắt lời:
– Đúng đó! Hai con a đầu trong Mộ Dung Trang nhất định không chịu dẫn phiên tăng đi tế mộ, cũng nhờ thế nên công tử gia mới thoát khỏi độc thủ của gã sư hổ mang kia.
Đoàn Dự gật đầu nói:
– A Châu, A Bích hai vị cô nương quả là người tốt bụng. Không biết họ bây giờ ra sao rồi? A Bích cô nương vẫn khỏe chứ?
Ba Thiên Thạch mỉm cười nói:
– Chúng ta ba đêm liên tiếp đều chỉ thấy A Bích cô nương ngồi may một chiếc trường bào đàn ông, Đoàn công tử, phải chăng cô ta may áo cho công tử chăng? Đoàn Dự vội đáp:
– Không phải, không phải đâu! Cô ta may áo cho Mộ Dung công tử đó. Ba Thiên Thạch nói:
– Đúng rồi! Ta xem con tiểu a đầu đó hồn vía đâu đâu, hẳn là nhớ đến công tử gia nhà thị, thành thử ba người ta đi hết phòng này sang phòng khác mà thị có hay biết gì đâu. Nàng không ngớt lẩm nhẩm: “Vô dụng, vô dụng, y nửa điểm cũng không để ta ở trong lòng, nghĩ nhiều đến y có ích gì?”.
Y dằn mạnh câu đó để nhắc chừng Đoàn Dự đừng theo thói của cha, đi đâu vương vãi ái tình đến đó, lời nói nhấn mạnh A Bích chỉ nhớ đến Mộ Dung công tử, Đoàn công tử chớ có tơ tưởng chỉ tổ mất công. Kì thực Đoàn Dự đối với A Bích dù có hảo cảm sâu, nhưng không phải là tư tình, thở dài:
– Đúng thế, A Bích thực là nói vậy, “Vô dụng, vô dụng, y nửa điểm cũng không để ta ở trong lòng, nghĩ nhiều đến y có ích gì?”.
Chàng không biết A Bích nhớ đến Mộ Dung công tử, lại tưởng là A Bích khuyên mình không nên nhớ tới Vương Ngữ Yên, lại nói:
– Mộ Dung công tử tuấn nhã vô song, cũng chẳng trách được! Huống chi hai người lại là anh em cô cậu, từ tấm bé đã có tình thanh mai trúc mã…
Phạm Hoa, Ba Thiên Thạch cả bọn ngơ ngác nhìn nhau, nghĩ thầm: “Đứa thị tì với công tử sao lại có tình thanh mai trúc mã được nhỉ? Anh em cô cậu là sao?”. Có ai biết được Đoàn Dự nghĩ đến là Vương Ngữ Yên đấy thôi.
Thôi Bách Tuyền hỏi thêm:
– Phạm Tư Mã, Ba Tư Không thử nghĩ xem tên phiên tăng đó định đến tế mộ Mộ Dung tiên sinh là vì lý do gì? Có liên can gì đến cái chết của sư huynh tiểu nhân chăng?
Phạm Hoa đáp:
– Ta đưa ra việc này cũng chính là để cho tất cả mọi người xem xét cho tỏ tường. Hoa đại ca vừa nghe đến chữ “mộ” đã thấy ngứa ngáy tay chân, mới bảo: “Không chừng trong mả lão già này có cái gì kỳ quái, hay là mình đào lên xem?”. Ta và Ba huynh không mấy tán thành, họ Cô Tô Mộ Dung danh mãn thiên hạ, họ Đoàn nhà mình đi đào mả người ta, xem ra quá đáng. Hoa huynh đệ bèn nói: “Mình len lén đào một địa đạo vào tới nơi, quỷ thần cũng không hay biết, huống hồ là người?”. Bọn ta cãi không được đành nghe theo. Ngôi mộ đó chôn ở phía sau trang viện, ở một nơi hết sức kín đáo, không dễ gì kiếm ra. Ba người chúng ta đào đến nơi, mở quan tài, Thôi huynh có đoán ra được chăng?
Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cùng bật dậy hỏi:
– Gì thế? Phạm Hoa đáp:
– Quan tài trống rỗng, không có xác người!
Thôi Quá hai người há hốc mồm, một hồi lâu không ngậm lại được. Qua một lúc
sau, Thôi Bách Tuyền vỗ đùi nói:
– Tên Mộ Dung Bác kia chưa chết. Y bảo con y đi rảo khắp nơi ở Trung Nguyên còn y đi ra xa vài nghìn dặm giết người, khiến cho không ai ngờ được. Sư ca ta… sư ca ta chắc là do tên ác tặc Mộ Dung Bác giết rồi.
Phạm Hoa lắc đầu:
– Thôi huynh cũng đã biết, gã Mộ Dung Bác này võ công cao siêu không biết đâu mà kể, muốn giết người thì dùng cách gì chẳng được, hà tất phải lưu lại cái công phu “gậy ông đập lưng ông” để cho người đời biết được rằng chính là do nhà Mộ Dung Cô Tô hạ thủ? Trong võ lâm ai chẳng biết y ghê gớm như thế, cớ gì lại phải giả chết là sao? Nếu chẳng phải Hoa đại ca có cái tài kia thì ai mà biết được bí mật đó?
Thôi Bách Tuyền ngồi phịch xuống, y tưởng mình đã tìm ra được chút ánh sáng le lói, bỗng chốc lại thấy như ở trong đám sương mù. Đoàn Dự nói:
– Trong thiên hạ tuyệt kỹ các môn các phái có đến hàng nghìn hàng vạn, nếu môn nào cũng hiểu rõ tận cội nguồn, thật khó bằng lên trời, vậy mà sao nàng lại thông minh tài trí đến vậy, võ công nào cũng rõ như chỉ trong lòng bàn tay… Thôi Bách Tuyền tiếp:
– Đúng vậy, chẳng hạn như chiêu Thiên Linh Thiên Liệt, là bí mật của phái Phục Ngưu không truyền ra ngoài, làm sao y lại biết được để dùng tuyệt chiêu này giết hại sư ca của ta?
Đoàn Dự lắc đầu:
– Đương nhiên nàng biết chứ, có điều là sức trói gà không chặt, dẫu biết tất cả võ công các môn phái, nhưng chính mình thì một chiêu cũng không sử dụng được, cũng chẳng đời nào hại mạng ai đâu.
Mọi người ngơ ngẩn nhìn nhau, một lát sau ai nấy chầm chậm lắc đầu. Hai mắt A Tử bị Đinh Xuân Thu đánh thuốc độc mù rồi, Du Thản Chi không kể sống chết cứu nàng đào tẩu. Đinh Xuân Thu tâm thần hơi nhãng, nội lực trên những ngón tay lỏng ra, Mộ Dung Phục được dịp may, lập tức vận tuyệt kỹ Đẩu Chuyển Tinh Di, nghe soạt một tiếng, năm ngón tay của Đinh Xuân Thu đã chộp trúng ngay cánh tay một tên đệ tử. Nắm tay tuột ra rồi, Mộ Dung Phục lập tức phi thân nhảy vọt ra, cười ha hả kêu lên:
– Thôi ngừng tại đây, Tinh Tú Lão Quái, sau này gặp lại.
Y thi triển khinh công chẳng thèm quay đầu nhìn nữa. Trận đánh đó y đả thương hơn mười đệ tử phái Tinh Tú, coi như toàn thắng, bọn Đặng Bách Xuyên bốn người đều bị dính độc chưởng của môn hạ phái Tinh Tú, nhưng mình có thể thoát được một cách an toàn cũng chỉ nhờ may, nhưng kinh mạch không khỏi bị tổn thương.
Gặp lại Vương Ngữ Yên cùng bọn Đặng Bách Xuyên rồi cả bọn liền nghỉ lại khách điếm, ít ra ngoài cũng chẳng giao thiệp với ai để dưỡng thương.
Mấy ngày sau, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác đều đã khôi phục như cũ, Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn cũng thuyên giảm nhiều. Sáu người bàn bạc, không biết A Châu bây giờ ra sao, ai nấy thắc thỏm nên đi xuống Lạc Dương để hỏi thăm tin tức. Năm trước đang đi trên đường, Bao Bất Đồng từng gặp A Châu và Tiêu Phong. Về sau Tiêu Phong nhỡ tay ngộ thương A Châu… bọn Mộ Dung Phục không hề biết.
Ở Lạc Dương không nghe thêm âm hao gì, Mộ Dung Phục nghĩ không đáng vì một tiểu a đầu mà phí thời gian, vì thế đi về hướng tây dò xét tình hình giang hồ gần đây, lại muốn nhân cơ hội thu nạp thêm vây cánh, ngày càng mở rộng thế lực phục quốc. Hôm đó sáu người đi vội nên lỡ mất quán xá thành thử đến lúc trời tối mịt mà vẫn còn lẩn quẩn trong sơn đạo, càng đi cỏ hai bên càng dày. Phong Ba Ác
– E rằng mình đi lầm đường, cái khúc quanh trước mặt xem ra không phải rồi. Đặng Bách Xuyên đáp:
– Thôi mình đi tìm cái hang núi hay cái miếu hoang nào nghỉ qua đêm vậy. Phong Ba Ác chạy lên trước tìm chỗ trú chân, thấy đường gập ghềnh khúc khuỷu,
toàn là đá tai mèo. Người như y thì chỗ nào cũng có thể nằm xuống đánh một giấc ngáy pho pho, thế nhưng kiếm cho ra một chỗ để Vương Ngữ Yên nghỉ ngơi thì không phải dễ.
Y chạy một hơi mấy dặm liền, vòng qua một triền núi, bỗng thấy xa xa nơi sơn cốc phía phải có một đốm lửa leo lét, mừng quá, quay đầu kêu to:
– Ở bên đây có người.
Bọn Mộ Dung Phục nghe thế bèn chạy tới, Công Dã Càn vui vẻ nói:
– Xem ra chỉ là một nhà thợ săn nhưng cũng có chỗ cho Vương cô nương nghỉ một đêm.
Sáu người nhắm hướng ngọn lửa xăm xăm đi tới, thế nhưng tuy vậy mà xa, đi một lúc lâu vẫn chỉ thấy bập bùng leo lét, nhìn không rõ có nhà cửa gì không. Phong Ba Ác lẩm bẩm chửi thề:
– Con bà nó chứ, ngọn đèn này hình như có gì tà môn. Đột nhiên Đặng Bách Xuyên hạ giọng kêu lên:
– Đợi đã, công tử gia xem kìa, đó là một ngọn lục đăng.
Mộ Dung Phục nheo mắt nhìn kỹ, quả nhiên cái đèn đó tỏa ra ánh sáng xanh lè, khác hẳn lửa thường phải có chút đo đỏ, vàng vàng. Sáu người càng đi nhanh hơn về phía ngọn đèn thêm hơn một dặm nữa, lúc đó mới thấy rõ. Bao Bất Đồng lớn tiếng nói:
– Tà ma ngoại đạo tụ tập ở chỗ này.
Cứ như võ công tài trí của năm người thì dù bang hội hay môn phái nào trên giang hồ cũng không có gì e ngại nhưng ai nấy nghĩ thầm: “Hôm nay có cả Vương cô nương đi chung, không gặp rắc rối gì là hơn cả”. Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác đã lâu không được gây gổ đánh đấm với ai, công lực lúc này đã phục hồi, bây giờ thấy ngứa ngáy tay chân chỉ chăm chăm muốn thử sức nhưng phải tự kiềm chế ngay. Phong Ba Ác nói:
– Hôm nay đi cả ngày rồi, cũng hơi mệt, cái địa phương thối tha này chẳng có gì hay, thôi quay lại là hơn.
Mộ Dung Phục mỉm cười nghĩ thầm: “Phong tứ ca bỗng dưng đổi tính đổi nết, quả thật khó thấy”. Y bèn nói:
– Biểu muội, nơi đây chẳng ra gì, thôi mình quay về đường cái vậy.
Vương Ngữ Yên không rõ lý do tại sao nhưng biểu ca đã nói thế nên cũng vui vẻ đi theo. Sáu người quay đầu, mới đi được vài bước, bỗng có một tiếng nói văng vẳng truyền tới:
– Nếu đã biết là tà ma ngoại đạo tụ tập ở đây thì mấy tên yêu ma quỷ quái nửa người nửa ngợm các ngươi sao không đến vui chơi luôn thể?
Giọng nói đó khi cao khi thấp, lúc được lúc mất tưởng như xoáy vào tai người ta thật là khó chịu, nhưng tiếng nào cũng rõ ràng. Mộ Dung Phục hừ một tiếng, biết rằng câu nói của Bao Bất Đồng: “Tà ma ngoại đạo tụ tập ở chỗ này” đã bị đối phương nghe được, cứ theo cách truyền âm thì người nói ra nội lực tuy không kém, nhưng chẳng phải là cao thủ hạng nhất trên đời. Y phất tay một cái nói:
– Mình không hơi đâu mà lằng nhằng với họ, để cho y đi. Y chẳng nói chẳng rằng quay lại theo đường cũ trở ra. Giọng nói kia lại tiếp:
– Đồ chó má, chỉ giỏi nói phét, tưởng cứ thế mà cúp đuôi chạy được à? Muốn đi thì rập đầu lạy ông tổ nhà mày ba trăm cái rồi hãy đi.
Phong Ba Ác không còn nhịn được nữa, đứng phắt lại, nói nhỏ:
– Công tử gia, để thuộc hạ tới dạy cho tên cuồng đồ này một bài học. Mộ Dung Phục lắc đầu nói:
– Y không biết mình là ai, thôi tha cho nó. Phong Ba Ác đáp:
Sáu người đi thêm chừng mươi bước, tiếng nói kia lại vẳng tới:
– Mấy tên đực rựa cúp đuôi chạy cũng được nhưng để con mái tơ lại cho ông cố nội chúng bay giải buồn.
Năm người thấy đối phương dám ra giọng nhục mạ đến Vương Ngữ Yên, ai nấy đều biến sắc, cùng đứng chựng lại, quay người. Lại nghe tiếng nói kia tiếp:
– Thế đã sao? Mau mau đưa con gà mái lại đây, để ông cố bay khỏi mất công… Y vừa nói tới đây, Đặng Bách Xuyên đưa khí từ đan điền quát lên:
Tiếng “công” của y trộn lẫn với tiếng “công” của đối phương, chấn động cả sơn cốc. Mọi người tai u u, rồi nghe thấy một tiếng “A” thảm thiết từ nơi ngọn đèn xanh truyền tới. Trong đêm thanh vắng, tiếng “công” của Đặng Bách Xuyên dư âm vẫn còn, cùng với tiếng rú khiến ai nấy rợn tóc gáy.
Tiếng hét của Đặng Bách Xuyên chính là dùng nội lực cực cao chấn thương đối thủ. Cứ tiếng kêu của gã kia mà xét, y bị thương không phải nhẹ, không chừng ô hô ai tai rồi. Tiếng rú của người kia vừa dứt, bỗng nghe một tiếng rít, một mũi tên lửa bắn thẳng lên trời, nghe bùng một tiếng tóe ra, cả một nửa bầu trời sáng rực màu xanh biếc. Phong Ba Ác nói:
– Thôi thì đâm lao phải theo lao, quét sạch sào huyệt bọn yêu ma quỷ quái này rồi tính sau.
Mộ Dung Phục gật đầu:
– Chúng mình nhịn một bước chẳng qua để khỏi lôi thôi. Thế nhưng đã làm thì làm cho đến đầu đến đũa.
Sáu người bèn xăm xăm theo hướng ngọn lửa xanh đi tới. Mộ Dung Phục sợ Vương Ngữ Yên gặp chuyện đâm ra khiếp đảm nên đi chậm lại, ở bên cạnh nàng, đã nghe Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác hai người hò hét ra tay động thủ rồi. Kế đó có ba bóng đen trong ánh lục quang bay văng lên, bịch bịch bịch ba tiếng đã đụng vào sườn núi, hiển nhiên bị Bao Phong hai người thanh toán xong xuôi.
Mộ Dung Phục đi tới gần ngọn đèn xanh thấy Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn đứng cạnh một chiếc đỉnh lớn bằng đồng xanh, mặt mày đăm chiêu. Một lão già nằm bên cạnh chiếc đỉnh, bên trong đỉnh có một luồng khói bay lên thẳng tắp, nhỏ như sợi chỉ. Vương Ngữ Yên nói:
– Đây là môn phái Tang Thổ Công ở động Bích Lân, Xuyên Tây. Đặng Bách Xuyên gật đầu:
– Cô nương quả uyên bác thật. Bao Bất Đồng quay lại hỏi:
– Làm sao đại ca biết? Việc đốt lang yên để báo tin này đã có từ mấy nghìn năm nay, đâu phải chỉ Xuyên Tây Bích Lân Động…
Y nói chưa dứt câu, Công Dã Càn đã chỉ vào một chân đỉnh, có ý bảo y coi cho kỹ. Bao Bất Đồng khom người xuống, cầm đèn soi, thấy trên chân đỉnh có khắc một chữ “tang” bằng hình mấy con rắn, con rết kết thành, đồng đã hoen rỉ, xem ra là
một cổ vật. Bao Bất Đồng biết Vương Ngữ Yên nói quả không sai, nhưng vẫn cãi chầy cãi cối: “Dẫu cái đỉnh đồng này của Tang Thổ Công ở Xuyên Tây thật, nhưng biết đâu bọ chúng chẳng đi mượn hay đi ăn trộm đem về? Huống chi người đời thường bảo “giả như đỉnh”, mười cái thì đến chín không phải đồ thật.
Mộ Dung Phục cả bọn trong bụng ai cũng phân vân: “Nơi đây cách Xuyên Tây rất xa, không lẽ cũng vẫn nằm trong địa giới của Tang Thổ Công hay sao?”. Họ biết rằng Bích Lân Động Tang Thổ Công ở Xuyên Tây đều là người Mèo, người Dao, hành sự khác hẳn người trong võ lâm Trung Thổ, giỏi về hạ độc nên trên giang hồ ai cũng e dè. Cũng may họ không tranh cạnh gì với người ngoài, miễn là đừng xâm nhập vào địa giới Dao Sơn ở Xuyên Tây thì họ cũng không đụng chạm gì đến. Mộ Dung Phục, Đặng Bách Xuyên cả bọn cũng chẳng sợ gì Tang Thổ Công, có điều nếu như gây thù chuốc oán với bọn người man di mọi rợ này thì chỉ tổ rắc rối, dây dưa thật là phiền toái. Mộ Dung Phục hơi trầm ngâm rồi nói:
– Chỗ thị phi này, đi khỏi càng sớm càng hay.
Y thấy lão già nằm bên chiếc đỉnh chỉ còn thoi thóp nhưng vẫn trợn trừng trừng, hầm hầm nhìn mọi người, chính là kẻ ăn nói đểu cáng nên bị hại vào thân. Mộ Dung Phục quay sang Bao Bất Đồng gật đầu một cái, hất hàm về phía gã kia. Bao Bất Đồng hiểu ra, vươn tay cầm cái cần tre treo ngọn đèn, chuyển đầu lại, phóng một cái, cả đèn lẫn cành tre liền đâm phập vào ngực lão già, ngọn đèn tắt phụt ngay. Vương Ngữ Yên hoảng hốt kêu lên một tiếng. Công Dã Càn nói:
“Bụng dạ nhỏ nhen sao quân tử, Ra tay không độc há trượng phu.
Cái này gọi là giết người bịt miệng, để khỏi di hoạn về sau”.
Y tung chân phải đá đổ luôn cái đỉnh đồng, Mộ Dung Phục cầm tay Vương Ngữ Yên, lách qua bên trái đi ra ngoài. Chỉ mới đi chừng mười trượng, trong đêm tối soẹt soẹt hai tiếng binh khí xé gió, một đao một kiếm từ trong đám cỏ dày chém vụt ra. Mộ Dung Phục phất tay áo một cái, mượn sức đánh sức, người cầm đao bên trái chém xuồng đầu người bên phải, kiếm người bên phải lại đâm vào ngực người bên trái, chỉ nháy mắt đã thanh toán xong hai kẻ đánh trộm, chân vẫn không ngừng lại chút nào. Công Dã Càn suýt soa:
– Công tử gia giỏi thật.
Mộ Dung Phục mỉm cười, vẫn tiếp tục chạy về phía trước, hữu chưởng vung lên, một kẻ địch từ đâu xông tới bị trúng đòn xương cốt kêu lắc rắc ngã lăn xuống sườn núi, tả chưởng đánh ra, một địch nhân phía trái kêu lên một tiếng thảm thiết, miệng hộc máu tươi. Trong đêm tối đột nhiên ngửi thấy một mùi tanh tưởi, khắm khú rồi hơi gió ập vào mặt, Mộ Dung Phục vội vàng ngưng tụ chưởng phong, đánh bật hai món ám khí vô danh kia dội trở về, chỉ nghe tiếng người kinh hoảng kêu lên, địch nhân đã trúng phải món ám khí độc địa mình vừa ném ra.
Trời tối như thế lại rơi vào vòng vây hãm, không biết bên địch nhiều ít thế nào, chỉ tiện tay sát nhân, giết đến tên thứ sáu rồi, Mộ Dung Phục trong bụng kinh hãi thầm: “Ba người đầu thì phần lớn có thể là Tang Thổ Công ở Xuyên Tây, nhưng ba người sau thì mỗi người một môn phái, oan gia càng lúc càng sâu, chẳng phải chuyện lành”.
Bỗng nghe Đặng Bách Xuyên kêu lên:
– Tất cả mọi người sánh vai xông ra hướng Thính Hương thủy tạ!
Thính Hương thủy tạ là một trang viện trong Yến Tử Ổ ở Cô Tô, vị ở hướng tây, là nơi thị tì A Châu cư ngụ. Đặng Bách Xuyên bảo xông ra hướng Thính Hương thủy tạ có nghĩa là lui về hướng tây để địch nhân khỏi phát giác. Mộ Dung Phục nghe
thấy thế, liền hiểu ra ngay, thế nhưng khi đó bốn bề tối đen như mực, không có một chút trăng sao, thật khó mà định được phương vị.
Y chăm chú nghe ngóng, thấy chưởng lực hậu trọng của Đặng Bách Xuyên ở phía phải đằng sau lưng vang lên hai lần, lập tức cầm tay Vương Ngữ Yên, lùi xéo qua ba bước, đứng ngay bên cạnh Đặng Bách Xuyên, nghe bịch bịch thì ra y đã đối chưởng với kẻ địch.
Cứ theo chưởng thanh mà luận, địch nhân quả là một tay hảo thủ. Kế đó Đặng Bách Xuyên lại quát lên một tiếng thị uy, Mộ Dung Phục biết y đang dùng chiêu Thạch Phá Thiên Kinh, đối phương khó mà đương cự nổi. Quả nhiên người kia kinh hoàng kêu rú lên, giọng the thé nhưng càng lúc càng thấp tưởng như chui xuống đất, kế đó đá dưới chân lục cục chuyển động rồi tiếng cành cây gãy đổ. Mộ Dung Phục hơi kinh hãi: “Gã này trượt chân rơi xuống vực rồi. Cũng may Đặng đại ca đánh rơi gã này xuống khe núi nếu không trong đêm tối trượt chân thì thật khổ”.
Ngay lúc đó, bên sườn núi cao phía trái có tiếng truyền xuống:
– Cao nhân ở phương nào sao dám đến quấy phá Vạn Tiên Đại Hội? Không coi động chủ ba mươi sáu động, đảo chủ bảy mươi hai đảo vào đâu chăng?
Cả bọn Mộ Dung Phục cùng kêu lên kinh ngạc. Cái tên “tam thập lục động động chủ, thất thập nhị đảo đảo chủ” họ đã nghe đến rồi, nhưng “động chủ, đảo chủ” kia chỉ là những kẻ bàng môn tả đạo không thuộc môn phái, bang hội nào. Những người đó võ công có kẻ cao người thấp, tính nết có thiện có ác, đi đâu thì đi, đến đâu thì đến, làm gì thì làm, chẳng thuộc phe cánh nào nên cũng không có thế lực, thành thử giang hồ không mấy coi trọng. Chỉ biết là họ ở lung tung khắp nơi các hòn đảo đâu vùng Đông Hải, Hoàng Hải, lại cũng có kẻ ẩn cư nơi núi cao rừng thẳm Côn Lôn, Kỳ Liên, trong những năm gần đây không nghe nói gì, cũng chẳng làm gì nên không ai để ý, ngờ đâu lại tụ hội nơi đây.
Mộ Dung Phục lớn tiếng nói:
– Huynh đệ tại hạ sáu người, đi đường ban đêm nên không biết các vị gặp nhau ở đây, vô ý mạo phạm, nay xin tạ lỗi. Vì trời tối nên đã xảy ra sự lầm lẫn, hai bên cười một tiếng bỏ qua, xin các vị cho mượn đường.
Mấy câu đó của y không phách lối mà cũng không hạ mình, cũng không thổ lộ lai lịch thân phận, chỉ nhận lỗi đã lỡ giết mấy người của đối phương. Đột nhiên chung quanh nổi lên tiếng cười ha ha, hì hì, khà khà, hích hích vang dậy, càng cười càng nhiều. Lúc đầu chỉ độ mươi người, về sau bốn phương tám hướng chỗ nào cũng có, nghe âm thanh phải đến năm sáu trăm, người thì gần người thì xa đến vài ba dặm.
Mộ Dung Phục nghe thấy thanh thế đối phương lớn lao dường ấy, lại nghe người kia nói gì là Vạn Tiên Đại Hội trong bụng nghĩ thầm: “Bữa nay xui quá, ma đưa lối, quỷ đưa đường khiến cho mình lạc vào ngay bọn tà ma ngoại đạo đang tụ tập. Tốt hết là mình không thổ lộ tên tuổi để khỏi vương vào chuyện gì gỡ không ra. Huống chi mình số ít địch với số đông, sáu người làm sao chống lại được mấy trăm?”.
Trong tiếng cười rộ, từ trên sườn núi cao người kia lại tiếp:
– Ngươi nói năng dễ nghe nhỉ, bao nhiêu đó tưởng thế là xong ư? Sáu người chúng bay ra tay đả thương mấy anh em ta, nếu như quần tiên trong Vạn Tiên Đại Hội thả cho bay đi thì cái mặt mo của ba mươi sáu động, bảy mươi hai đảo vứt bỏ đi đâu?
Mộ Dung Phục trấn tĩnh lại, đưa mắt nhìn ra bốn bề thấy trước sau trái phải trên sườn đồi, ngọn núi, dưới thung lũng, ngang đèo chỗ nào cũng lấp ló, thấp
thoáng bóng người, trời tối không nhìn rõ hình dáng mặt mày. Những người đó không biết ở đâu ra, tưởng chừng như đùng một cái dưới đất chui lên. Bấy giờ Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác đã đến đứng chung quanh Mộ Dung Phục và Vương Ngữ Yên hộ vệ, nhưng bị mấy trăm người bao vây, thật có khác gì chiếc bách con con giữa trùng dương đại hải. Mộ Dung Phục và bọn Đặng Bách Xuyên trong đời đã trải qua nhiều trận đánh lớn, nhìn vào tình thế trước mắt cũng không khỏi nổi da gà nghĩ thầm: “Bọn người này quả thực quái đản, tám người mười người thì không nói làm gì, đến mấy trăm người tụ lại một chỗ thật chẳng dễ đối phó”.
Mộ Dung Phục ngưng khí vào đan điền, lớn tiếng nói:
– Người ta có câu không biết thì không có tội. Đại danh của chúa động ba mươi sáu động, chúa đảo ba mươi sáu đảo, tại hạ cũng đã từng nghe, không bao giờ dám cố ý đắc tội. Tang Thổ Công của Bích Lân Động ở đất Xuyên Tây, Huyền Hoàng Tử của Cầu Long Động ở Cam Túc, Chương Đạt Phu tiên sinh chúa đảo Huyền Minh ở Đông Hải xem ra cũng đều có mặt nơi đây. Tại hạ Mộ Dung Phục vô ý mạo phạm, mong được tha tội một phen.
Chỉ thấy bốn bề có nhiều tiếng “A” lên kinh ngạc, hiển nhiên nghe đến ba chữ “Mộ Dung Phục” đều chấn động. Giọng người ồm ồm kia bèn hỏi:
– Có phải nhà Mộ Dung với ngón “gậy ông đập lưng ông” hay chăng? Mộ Dung Phục đáp:
– Không dám, chính là tại hạ đây. Người kia nói:
– Họ Cô Tô Mộ Dung thì không phải là hạng xoàng! Thắp đèn! Tất cả tiến lên xem nào!
Lời của y vừa dứt, từ phía đông nam xuất hiện một ngọn đèn vàng, rồi phía tây và tây bắc lại có đèn đỏ giơ lên. Chỉ trong giây lát, chúng quanh bốn bề chỗ nào cũng có đèn, cái thì đèn lồng, cái thì đuốc, cái lại là đèn Khổng Minh, chỗ lại đốt cỏ khô, nhựa thông, mỗi động chủ đảo chủ cầm một món khác nhau, cái thật giản dị sơ sài, cái lại cầu kỳ khéo léo, không biết dấu ở đâu bây giờ mới lôi ra. Ánh lửa chập chờn khi mờ khi tỏ chiếu vào mọi người, quả là huyễn ảo.
Những người đó nam có nữ có, đẹp có xấu có, lại có cả nhà sư, đạo sĩ, kẻ thì tay áo rông phất phơ, kẻ thì áo cánh quần cộc, kẻ thì già cả râu tóc tung bay, kẻ lại đàn bà búi tóc cao nghệu, phục sức hầu hết kỳ hình quái trạng, khác hẳn nhân sĩ Trung Nguyên.
Hơn một nửa bọn họ tay cầm binh khí, hình dáng cũng thật cổ quái, không biết gọi tên là gì. Mộ Dung Phục chắp tay hành lễ bốn bề, lớn tiếng nói:
– Xin chào các vị, tại hạ Mộ Dung Phục đất Cô Tô xin ra mắt.
Người chung quanh có kẻ hoàn lễ, có kẻ vẫn thản nhiên đứng yên. Một người ở phía tây nói:
– Mộ Dung Phục, họ Cô Tô Mộ Dung nhà ngươi ra oai hoạnh họe ở Trung Nguyên thì mặc kệ bay. Chứ còn xông vào Vạn Tiên Đại Hội mà ngang tàng thì bọn ta chẳng coi ra quái gì đâu? Ngươi dám xưng là “ăn miếng trả miếng” thì mỗ hỏi đây, cái miếng của ta là miếng gì, muốn trả miếng thì trả làm sao? Mộ Dung Phục theo tiếng mà nhìn tới, thấy trên một tảng đá ở phía tây có một gã ngồi bảnh chọe nơi đó, cái đầu to trọc lông lốc không có một sợi tóc nào, mặt đỏ ửng trông xa chẳng khác gì một trái cầu máu. Mộ Dung Phục liền ôm quyền nói:
– Xin chào! Xin hỏi tôn tính đại danh? Gã kia ôm bụng cười ngất nói:
– Lão phu thử ngươi một chút, để xem Cô Tô Mộ Dung có chân tài thực học hay chỉ thùng rỗng kêu to. Ta đã hỏi rồi: nếu ngươi muốn ăn miếng trả miếng ta thì dùng cách gì? Nếu như ngươi trả lời đúng, người khác thế nào thì ta không biết, lão phu nhất định không làm khó cho ngươi đâu. Lúc đó ngươi có đi đâu ta cũng mặc xác, không thèm hỏi lấy một tiếng.
Mộ Dung Phục nhìn cục diện trước mắt, biết rằng chuyện hôm nay, không chỉ nói vài lời mà có thể yên lành, xem ra phải xuất thủ vài chiêu, bèn đáp:
– Nếu đã thế, tại hạ phụng bồi vài chiêu, xin tiền bối ra tay. Người kia lại ôm bụng cười như nắc nẻ nói:
– Ta đánh đố ngươi chứ có bảo ngươi thử tài ta đâu. Nếu ngươi nói không được thì danh hiệu “gậy ông đập lưng ông” kia để ta tước đi vậy.
Đôi lông mày Mộ Dung Phục nhướng lên, nghĩ thầm: “Ngươi cứ ngồi chình ình nơi đó, không động đậy gì cả, ta không biết ngươi thuộc môn phái nào, cũng chẳng biết tên tuổi thì làm sao biết được tuyệt chiêu sở trường của ngươi là gì?
Không biết ngươi có “miếng” gì thì làm sao mà “trả”? Y còn hơi trầm ngâm, gã đầu to kia đã cười khẩy nói:
– Bọn chúng ta ba mươi sáu chúa động, bảy mươi hai chúa đảo chia ra ở khắp mọi nơi chân trời góc biển, chẳng hơi đâu mà xen vào chuyện của Trung Nguyên. Trong đám người mù kẻ chột làm vua, cái thứ nít ranh miệng còn hôi sữa mà đã lên mặt gì gì Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung! Ha ha, tức cười ơi là tức cười! Vô sỉ ơi là vô sỉ! Nè, để ta nói cho nghe, hôm nay nếu như ngươi muốn thoát thân thì cũng chẳng khó. Ngươi chỉ cần rập đầu lạy chúa động, chúa đảo mỗi người mười cái, tất cả tổng cộng một ngàn tám chục cái thì bọn ta sẽ cho mấy đứa ranh con chúng bay đi.
Bao Bất Đồng nén nhịn đã lâu, bây giờ không còn nhẫn nại được nữa, lớn tiếng nói:
– Ngươi muốn công tử nhà ta dùng đòn “ăn miếng trả miếng”, lại muốn công tử khấu đầu ư? Cái ngón tuyệt kỹ của ngươi, công tử nhà ta học làm sao nổi? Ha ha, tức cười ơi là tức cười! Vô sỉ ơi là vô sỉ!
Y uốn éo giọng, bắt chước giọng gã đầu to y hệt không khác một mảy. Gã đầu to tằng hắng một tiếng, nhổ ra một bãi đờm, bắn thẳng vào người Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng nghiêng người qua tránh được, cục đờm đó sượt qua mang tai, đột nhiên trên không chuyển hướng, bẹt một tiếng trúng ngay góc trán Bao Bất Đồng. Cục đờm đó kình lực không phải yếu, Bao Bất Đồng vội vàng né tránh, bãi nước miếng đó trúng ngay huyệt Dương Bạch trên lông mày y.
Mộ Dung Phục kinh hãi: “Lão già này ngầm chứa kình lực trong bãi đờm, chuyện đó cũng chẳng khó. Lạ nhất là cục đờm phóng ra rồi, giữa đường lại đổi chiều được”. Gã đầu to cười sằng sặc nói:
– Mộ Dung Phục, lão phu chẳng cần ngươi phải “trả miếng” đâu, chỉ cần ngươi nói được lai lịch cục đờm đó thì lão phu phục lắm rồi.
Mộ Dung Phục trong đầu biết bao ý nghĩ xoay chuyển, nhưng không làm sao nghĩ ra được, bỗng nghe giọng trong trẻo êm ả của Vương Ngữ Yên đứng bên cạnh cất lên:
– Đoan Mộc đảo chủ, ông luyệt được ngón Quy Khứ Lai Hề trong Ngũ Đẩu Mễ thần công, quả không phải dễ. Thế nhưng ông cũng đã giết bao nhiêu là người, công tử nhà ta nghĩ đến công phu tu luyện của ông nên không muốn tiết lộ lai lịch để khỏi đụng chạm đến cấm kỵ của đồng đạo chứ có phải công tử nhà ta không biết dùng công phu đó để đối phó với ông đâu?
Mộ Dung Phục vừa mừng vừa sợ: “Cái tên “Ngũ Đẩu Mễ thần công” ta chưa từng nghe
nói đến, vậy mà biểu muội đã biết rồi, chẳng biết có đúng hay không?”.
Gã đầu to kia mặt vốn đỏ rực như máu, đột nhiên biến ra xanh lè, rồi lập tức trở lại màu đỏ, cười nói:
– Con nhãi này chỉ nói tầm bậy tầm bạ, ngươi thì biết cái gì? Cái môn Ngũ Đẩu Mễ thần công tổn nhân lợi kỷ kia, âm độc tàn ác, người như ta đời nào thèm luyện? Thế nhưng ngươi cũng nói ra được họ của lão gia, kể cũng không phải dễ! Vương Ngữ Yên nghe y nói thế, biết mình đoán trúng rồi, nhưng không dám nhận đấy thôi, bèn đáp:
– Đoan Mộc động chủ của Xích Diễm Động nơi Ngũ Chỉ Sơn, đảo Hải Nam, trên giang hồ ai mà chẳng nghe tiếng, ai mà chẳng biết tên? Thì ra công phu đó không phải Ngũ Đẩu Mễ thần công thì hẳn là một môn công phu do Địa Hỏa Công biến hóa ra.
Địa Hỏa Công là một công phu cơ bản của Xích Diễm Động. Tông chủ của Xích Diễm Động đều là người mang họ kép Đoan Mộc, gã đầu to này tên là Đoan Mộc Nguyên, nghe thấy Vương Ngữ Yên nói ra được lai lịch thân phận của mình, lại tế nhị che dấu môn Ngũ Đẩu Mễ thần công, trong lòng bỗng sinh hảo cảm, huống chi Xích Diễm Động chỉ là một môn phái nhỏ xíu vô danh trên giang hồ, vậy mà nàng lại bảo rằng “ai mà chẳng nghe tiếng, ai mà chẳng biết tên”, nên hết sức khoái chí, bèn cười hềnh hệch nói:
– Đúng lắm! Đúng lắm! Đây chỉ là một công phu hạng bét trong Địa Hỏa Công. Lão phu đã nói rồi, ngươi nói được tên môn phái ta ra, vậy ta sẽ không làm khó các ngươi nữa.
Bỗng nghe từ xa có người kêu lên:
– Cô Tô Mộ Dung quả là danh bất hư truyền! Mộ Dung Phục giơ tay nói:
– Không bõ làm trò cười cho phương gia, thực không dám nhận.
Ngay lúc đó một lằn kim quang, một lằn ngân quang nhanh như điện chớp từ phía trái bắn qua, tiếng rít nghe thật kinh khiếp. Mộ Dung Phục không dám chần chờ, hai tay áo căng phồng tung ra đỡ, nghe bùng một tiếng lớn, hai đạo ngân quang kim quang đều dội ngược trở về. Lúc bấy giờ mới nhìn rõ, hóa ra là hai sợi dây đai dài ngoằng, một sợi màu vàng, một sợi màu bạc. Ở phía đầu bên kia là hai ông già, người sử dụng đai vàng mặc áo bào màu bạc, còn người sử dụng đai bạc lại mặc áo bào màu vàng. Hai màu vàng bạc sáng lấp lánh, cực kỳ hoa lệ, những loại áo vàng áo bạc như thế này người thường có ai mặc bao giờ, chẳng khác gì những kẻ phường tuồng. Ông già mặc áo bạc nói:
– Bội phục, bội phục! Tiếp thêm một chiêu nữa của huynh đệ ta.
Ánh sáng vàng lóe lên, chiếc kim đái từ bên trái múa may phóng tới, còn chiếc ngân đái lại phóng lên trên không rồi từ trên cao bổ xuống, tấn công vào thượng bàn Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục nói:
– Hai vị tiền bối…
Chỉ mới tới đó, đột nhiên có tiếng vù vù, ba người sử địa đường đao pháp, đao cuộn dưới đất, tấn công hạ bàn Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục trên đầu, trước mặt, bên trái ba nơi cùng bị tấn công, nghĩ thầm: “Đối phương được gọi là ba mươi sáu động chủ, bảy mươi hai đảo chủ, người nhiều thế đông, bây giờ hỗn chiến, nếu không cho họ biết thế nào là lợi hại thì làm sao kết thúc được?”.
Y thấy ba lưỡi đao dài phăng phăng chém vào liền đá ra ba ngọn cước, đều trúng cổ tay đối phương, bạch quang lấp loáng, ba lưỡi đao bắn vọt lên trời. Mộ Dung Phục hơi nghiêng người, tay phải đẩy ra, sử dụng môn Đẩu Chuyển Tinh Di, hất đầu hai chiếc đai vàng đai bạc, nghe cạch một tiếng, hai chiếc đai quấn lại làm
Ba người sử dụng địa đường đao bị rơi mất vũ khí rồi nhưng không chịu lùi bước, miệng rống lên khè khè, giang tay toan ôm lấy chân Mộ Dung Phục. Đầu mũi chân Mộ Dung Phục liền nhanh như gió thoảng đá ra trúng ngay huyệt đạo trên ngực ba gã đó. Bỗng nhiên có một người mặc áo đen tay chân dài ngoẵng vượt đám người tiến ra, giơ bàn tay to như cái quạt, chộp đến Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục thấy người này thân thủ trầm ổn chắc nịch, võ công so với những người kia cao cường hơn nhiều, thầm nghĩ: “Người này chắc là thủ lĩnh của mọi người, cần chế ngự được người này mới dễ nói chuyện”.
Y nhảy tới, qua khỏi ba người nằm lăn dưới đất, chưởng phải đánh ra tập kích người áo đen. Người kia cười khẩy một tiếng, ánh sáng xanh lấp lánh, y đã giơ một thanh quỷ đầu đao sống dày lưỡi mỏng sắc bén lạ thường lên ngang ngực.
Chưởng của Mộ Dung Phục nếu tiếp tục đánh ra thì cổ tay y sẽ bị cắt đứt. Thế nhưng y không thu chiêu, chờ tới khi bàn tay chỉ còn cách lưỡi đao chừng hai tấc, đột nhiên chuyển thế đánh thành thế bắt, bàn tay vuốt xuôi luôn xuống lưỡi đao, chém vào mấy ngón tay đang cầm cán.
Cạnh bàn tay Mộ Dung Phục đầy chân khí, sắc bén nào có kém gì quỷ đầu đao, chém xuống cũng có thể cắt đứt tay dễ dàng. Gã áo đen xuất kỳ bất ý, chỉ kịp kêu ối lên một tiếng, buông lưỡi dao ra, lật chưởng lại đỡ, nghe bạch một tiếng, hai người đã trao đổi một chưởng.
Người áo đen hự lên một tiếng, thân hình lảo đảo, nhảy ngược về sau. Mộ Dung Phục lại vươn tay ra chộp lấy thanh quỷ đầu đao, mũi ngửi thấy một mùi tanh tưởi tưởng như muốn mửa, biết ngay thanh đao này tẩm thuốc cực độc, thật là hiểm ác tà môn.
Tuy chỉ một chiêu đã đoạt được đao của đối phương nhưng đã có bảy tám người bên địch cầm binh khí chặn trước mặt người áo đen. Huống chi khi đối chưởng mới rồi, người áo đen có kém mình một chút nhưng có điểm gì kỳ quái, đoạt được cương đao chẳng qua vì mình xuất kỳ bất ý, nếu động thủ thực sự chưa chắc đã thắng được ngay.
Trong lúc nguy cấp, chi bằng khoe tài ra uy, rồi tìm cách thoát ra, đột nhiên quát to, vung quỷ đầu đao, nhảy vào đám người. Chỉ thấy mọi người kêu lên:
– Mọi người cẩn thận! Gã đó tay cầm Lục Ba Hương Lộ Đao, chớ có để y chém trúng.
– Ối trời ơi! Lục Ba Hương Lộ Đao của Ô Lão Đại bị tiểu tử đó đoạt mất rồi, thật khổ!
Mộ Dung Phục múa đao xông lên, dù là hòa thượng đạo sĩ, kẻ xấu người đẹp, người nào cũng phải dạt ra, ai cũng kinh hoàng khiếp đảm, đủ biết thanh quỷ đầu đao này thật là nổi tiếng, có điều hôi thối như thế cớ gì lại gọi là “Hương Lộ Đao”, quả thật nực cười, nghĩ thầm: “Ta dùng thanh đao tẩm độc này giết mươi đứa chúa động, chúa đảo thật chẳng khó khăn, có điều không thù không oán, việc gì phải hại đến mạng người?”. Y tuy múa may đâm chém nhưng không giết một ai, gặp thời cơ nên đã điểm ngã một người, đá ngã hai người.
Bọn người đó lúc đầu sợ hãi lắm, nhưng sau thấy uy lực của thanh đao không nhiều, trấn tĩnh lại, trường kiếm đoản kích, nhuyễn tiên ngạnh bài bốn bề xông vào tấn công. Mộ Dung Phục bị đến hơn chục người vây vào giữa, bên ngoài vòng trong vòng ngoài còn thêm đến mấy trăm người, trong lòng không khỏi hoảng vía. Đấu thêm một hồi nữa, Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Đấu mãi như thế này, kết thúc làm sao đây? Xem ra không hạ sát thủ không xong”. Đao pháp của y tăng thêm,
bình bình hai tiếng, dùng cán đao đánh hai người bất tỉnh. Bỗng nghe Đặng Bách Xuyên kêu lên:
– Bọn hạ lưu kia, không được quấy rầy cô nương!
Mộ Dung Phục liếc mắt nhìn qua, thấy có hai người tung mình nhảy lên tấn công Vương Ngữ Yên đang trèo lên cành tùng. Đặng Bách Xuyên vội vàng chạy đến cứu, xuất chưởng ngăn họ lại. Mộ Dung Phục vừa thấy yên tâm thì lại có ba người khác nhảy về phía cây tùng, biết ngay chủ ý của bọn này: “Chúng đánh không được mình nên định bắt giữ biểu muội để uy hiếp ta, quả thật là bọn vô sỉ”.
Thế nhưng chính mình cũng đang bị chúng quấn quýt, không cách gì có thể phân thân, thấy hai mụ đàn bà nắm tay Vương Ngữ Yên, từ trên cây nhảy xuống. Một đầu đà tóc dài đầu đội kim hoàn liền cầm giới đao, nhứ ngang cổ Vương Ngữ Yên quát lên:
– Mộ Dung tiểu tử, nếu ngươi không đầu hàng, ta sẽ chém chết người bạn của ngươi ngay!
Mộ Dung Phục hoang mang, nghĩ thầm: “Bọn khốn kiếp này vô cùng tà ác, nếu chúng làm hại biểu muội thì biết tính sao đây? Thế nhưng họ Mộ Dung Cô Tô ta tung hoành võ lâm, lẽ nào lại đầu hàng bao giờ? Hôm nay chịu thua thì sau này còn mặt mũi nào nữa?”. Y trong bụng phân vân nhưng tay không chậm lại chút nào, vụt vụt chưởng bên trái đánh văng hai tên địch ra ngoài. Gã đầu đà lại kêu:
– Nếu ngươi không hàng thì ta phải chặt cái đầu như hoa tựa ngọc này. Y vung giới đao vù vù, thanh quang lấp loáng.