Trùng trãi ngưng hàn chưởng tác bang
Du Thản Chi xách chiếc hồ lô, rảo bước đi về thành Nam Kinh, bẩm lại cho A Tử là đã bắt được con băng tằm. A Tử mừng lắm vội vàng bảo y bỏ con tằm vào trong chiếc hũ sành để nuôi. Lúc đó đang vào tháng ba cuối xuân, thời tiết đang ấm dần, ngờ đâu vừa nuôi con băng tằm ở điện phụ, lập tức trong nhà càng lúc càng lạnh.
Đêm hôm đó, Du Thản Chi nằm trong chăn mà run lẩy bẩy, không sao ngủ được, nghĩ thầm: “Con tằm này thật lạ trên đời ít có. Nếu như cô nương đem nó hút máu mình thì dù không chết vì chất độc, cũng lạnh cóng mà chết”.
A Tử liên tiếp bắt mấy con rắn độc, trùng độc đem đến đấu với nó, đều bị con băng tằm chạy quanh vài vòng là đông cứng chết ngay để cho nó hút hết trấp dịch. Đến hơn mười ngày, không giống độc trùng nào đương cự nổi. Hôm đó A Tử đến điện phụ nói:
– Thiết Sửu, hôm nay phải giết con băng tằm, ngươi thò tay vào trong hũ để cho con tằm hút máu.
Du Thản Chi những ngày qua lúc nào cũng lo ngay ngáy, đêm trằn trọc sợ cái giờ phút này, quả nhiên cô nương chẳng chút dung tình, rồi cũng bắt y và con băng tằm cùng hi sinh, trong lòng buồn bã, quay sang nhìn A Tử một lát không nói năng, không cử động. Về phần A Tử nàng chỉ nghĩ: “Ta vô tình được bảo vật hiếm có này, độc chưởng công phu khi luyện thành rồi e rằng so với sư phụ còn ghê gớm hơn”. Nàng liền giục:
– Ngươi thò tay vào hũ đi thôi.
Nước mắt Du Thản Chi nhỏ ròng ròng, quỳ xuống khấu đầu nói:
– Cô nương luyện thành độc chưởng rồi, đừng quên tiểu nhân vì cô nương mà phải chết. Tôi họ Du, tên Thản Chi chứ không phải là Thiết Sửu.
A Tử mỉm cười nói:
– Được, tên ngươi là Du Thản Chi, ta nhớ rồi. Ngươi trung thành với ta, tốt lắm, đúng là một đứa đầy tớ hết lòng với chủ.
Du Thản Chi được nàng khen ngợi mấy câu như thế, cảm thấy hết sức an ủi, lại khấu đầu thêm hai lần nữa nói:
– Đa tạ cô nương!
Thế nhưng y vẫn không muốn bó tay chịu chết bèn rùn người, vòng xuống chui đầu qua hai đùi, tay trái nắm cổ chân, tay phải thò vào trong hũ, trong đầu nghĩ đến những mũi tên nhỏ ở trên người nhà sư khỏa thể trong cuốn sách. Đột nhiên đầu ngón tay trỏ hơi ngứa, một làn khí lạnh như băng chạy thẳng lên như tên bắn, theo cánh tay vào trong ngực. Du Thản Chi trong đầu chỉ nhớ đến hướng của mũi tên, luồng hàn khí kia đi đúng theo những kinh mạch y đang nghĩ tới, từ ngón tay lên cánh tay rồi từ ngực chạy lên đỉnh đầu, sợi dây nhỏ đó đi đến đâu tỏa hơi lạnh buốt thấu xương.
A Tử thấy tư thế cổ quái của Du Thản Chi thật tức cười, qua một lúc sau, thấy y đứng lộn tùng phèo như thế, không khỏi ngạc nhiên, đến gần xem thấy con băng tằm vẫn cắn chặt ngón tay trỏ. Thân con tằm óng ánh trong suốt như thủy tinh, nhìn kỹ thấy có một dòng máu chạy từ miệng đổ vào, đi vòng qua phía tả, quấn quanh một vòng, rồi từ bên phải chảy ngược trở về ngón tay trỏ Du Thản Chi.
Thêm một lúc nữa, trên chiếc đầu sắt, y phục, chân tay Du Thản Chi đều phủ một làn sương mỏng, A Tử nghĩ thầm: “Tên nô tài này chắc là chết rồi. Người sống trên mình phải có hơi ấm, làm sao kết thành sương được?”. Thế nhưng trong người con băng tằm máu vẫn còn lưu chuyển, hiển nhiên hút máu chưa xong. Đột nhiên trên mình con tằm có những sợi nhiệt khí như tơ bốc ra.
A Tử còn đang kinh ngạc thì đã nghe bộp một tiếng, con tằm từ ngón tay Du Thản Chi rơi xuống đáy hũ, vội dùng cây gậy cầm sẵn trong tay giã xuống một cái.
Nàng vẫn tưởng con tằm này rất kì quái, một gậy như thế chưa chắc đã giết được nó, ngờ đâu khi rơi xuống rồi, con vật chỉ nằm phơi bụng không lật lại nổi, thành thử một gậy của A Tử đã đâm băng tằm nát ngướu.
A Tử mừng lắm vội vàng thò tay vào hũ, bôi huyết dịch con tằm vào lòng bàn tay, nhắm mắt hành công, hút hết vào trong người. Nàng cứ xoa lên hết lần này sang lần khác đến khi không còn tí gì mới thôi.
Hành công hết nửa ngày, A Tử trong người mệt mỏi, đứng dậy, thấy đầu Du Thản Chi vẫn còn lộn ngược chui giữa hai đùi, toàn thân trắng xóa, kết đầy băng sương. Nàng hết sức sợ hãi, đưa tay sờ thử người y thấy lạnh buốt, quần áo đóng băng cứng ngắc. Nàng vừa lạ lùng vừa tức cười, gọi Thất Lý vào bảo đem Du Thản Chi đi chôn.
Thất Lý liền cùng hai tên lính Khất Đan nữa, vứt xác Du Thản Chi lên một chiếc xe ngựa, chạy ra khỏi thành. A Tử không dặn y phải chôn cất cho chu đáo, Thất Lý cũng chẳng phí sức đào một cái huyệt, thấy bên cạnh đường có một khe nước, liền vứt luôn xuống suối, rồi quay về.
Thế nhưng cũng chính vì Thất Lý làm biếng một chút mà lại cứu được mạng Du Thản Chi. Thì ra ngón tay y bị băng tằm cắn rồi bèn dùng phép vận công của “Dục tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc kinh” để hóa giải độc khí, huyết dịch bị con tằm hút ra lại theo ngón tay quay ngược trở về huyết quản đem bao nhiêu tinh hoa kịch độc của con băng tằm vào người. A Tử sau đó hút huyết tương của con tằm chỉ mất công toi chứ không còn hiệu dụng gì cả.
Nếu như Du Thản Chi đã học toàn bộ phép hành công của “Dục tam ma địa đoạn hành thành tựu thần túc kinh” thì sẽ có thể tiêu giải chất độc của con băng tằm nhưng vì y chỉ mới học được có một pháp môn, thu vào mà không biết đẩy ra nên chất kỳ độc đệ nhất âm hàn của con sâu kia đã khiến cho người y bị đông cứng.
Còn như Thất Lý đem y chôn xuống đất thì sẽ thành một cái xác ướp dù có vài trăm năm sau cũng chưa chắc đã rữa được. Du Thản Chi bị vứt xuống suối trôi theo dòng, hơn một chục dặm sau gặp chỗ uốn khúc, vướng vào một đám lau sậy. Chẳng bao lâu, nước chung quanh người y đã biến thành băng. Nước suối tiếp tục soi mòn, tiêu giải từng chút từng chút hàn khí khiến cho khối băng bao quanh y dần dần tan hết.
Cũng may đầu Du Thản Chi có cái lồng sắt, kim loại mau nóng mà cũng mau nguội nên đá trên đầu tan ra trước mới không chết ngạt. Đầu óc y tỉnh táo liền từ dưới khe nước bò lên, nước đá trên người chạm vào nhau kêu loong coong.
Khi thân thể mới biến thành băng không phải y hoàn toàn không biết gì cả mà chỉ vì bị kết trong khối băng không cử động được mà thôi. Đến sau y hôn mê không còn biết gì nữa, bây giờ chết đi sống lại thật không khác một giấc mộng dài.
Du Thản Chi ngồi trên bờ suối, nghĩ mình đối với A Tử một lòng trung thành sắt son cam nguyện đem thân nuôi độc trùng để giúp nàng luyện công, vậy mà khi mình chết đi, A Tử chẳng thèm thở dài lấy một tiếng. Lúc đó y từ trong băng nhìn ra thấy A Tử mặt mày hớn hở có được huyết tương của con băng tằm đem chà vào lòng bàn tay, chỉ nghiêng đầu nhìn mình, thấy mình chết xem chừng thú vị, lại hơi kỳ quái, hoàn toàn chẳng có chút gì thương xót.
Y lại nghĩ: “Băng tằm độc địa như thế, đã từng hút chất độc của hàng nghìn độc trùng độc xà, cô nương nay hút hết vào trong lòng bàn tay rồi, độc chưởng chắc đã luyện thành. Nếu như ta quay về…”. Y đột nhiên run bắn người lên, nổi gai ốc nghĩ thêm: “Cô ta vừa thấy mình thể nào chẳng đem ra thử độc chưởng. Nếu như đã luyện thành thể nào đánh một cái là mình chết tươi. Còn như luyện chưa xong, thì lại sai mình đi bắt rắn độc, trùng độc nữa cho đến bao giờ luyện xong một chưởng đánh chết mình lúc ấy mới thôi. Đằng nào cũng chết, ta quay về làm gì?”. Du Thản Chi đứng lên, nhảy nhót vài cái rũ hết những mảnh băng còn bám trên người nghĩ thầm: “Bây giờ mình biết đi đâu đây?”. Đi tìm Kiều Phong báo thù cho cha ư, điều đó y nào dám nghĩ đến. Nhất thời y không biết tính sao, chỉ đành
lang thang trong đồng rộng núi hoang, hái trái dại, bắt chim chóc, thú nhỏ mà ăn. Đến chiều hôm sau, đột nhiên thân mình rét run, ớn lạnh không chịu nổi, y bèn mang cuốn Thần Túc Kinh bằng tiếng Phạn ra định học theo tư thức của nhà sư trong sách, muốn có thể khu trừ hàn độc như ngày trước.
Cuốn sách đó khi rơi xuống suối đã ướt mèm, đến giờ vẫn chưa khô. Y cẩn thận giở từng tờ, chỉ sợ rách, thấy trang nào cũng có hình một quái tăng, tư thức mỗi người một khác. Y suy nghĩ một hồi rồi cũng hiểu ra, hình trong quyển sách gặp nước thì lộ ra chứ chẳng phải bồ tát hiện thân cứu mạng gì cả, bèn làm theo tư thức thứ nhất trên trang đầu tiên, lần theo mũi tên đỏ trên người nhà sư thấy có một sợi chỉ nhỏ thật lạnh chạy ngang chạy dọc khắp tứ chi và xương cốt, chẳng khác gì con băng tằm còn sống bò trong cơ thể mình. Y kinh hãi vội vàng đứng lên, lập tức con tằm lạnh trong người liền biến mất.
Suốt hai giờ sau y chỉ nghĩ đến: “Không biết con tằm chui vào người mình đã chạy đi chưa?”. Thế nhưng y không sờ thấy, cũng chẳng mò ra, không hình không bóng, sau cùng nhịn không nổi lại tập theo tư thức cổ quái kia rồi nghĩ theo mũi tên đỏ trên người nhà sư, chẳng bao lâu lại thấy có một con băng tằm bò trong cơ thể. Y kêu lên một tiếng, vội ngừng lại không còn dám nghĩ thêm lập tức con tằm biến mất nhưng cứ vừa nghĩ đến thì nó lại bò ra.
Mỗi lần con tằm bò một vòng, lạnh giá liền giảm, toàn thân thoải mái không biết đâu mà kể. Trong cuốn sách hình những nhà sư quái dị rất nhiều, từ những mũi tên đỏ cái cong cái thẳng, biến hóa phức tạp. Y cứ theo những tư thức khác nhau mà gọi con tằm, trong người khi nóng khi lạnh, mỗi lúc có một lối thư thái riêng. Một tháng sau, băng tằm trong cơ thể vận hành thành thục, lại tự nhiên vận hành, không cần dùng tâm ý vận hành. Du Thản Chi lúc này cũng không coi trọng bản kinh thư nữa, trong lúc vô ý giở ra làm rách kinh thư, liền phá hủy rồi quăng đi.
Cứ như thế luôn mấy tháng trời, tay chân y bắt cầm thú càng lúc càng linh hoạt, nhảy nhót cũng xa hơn, chạy thêm nhanh nhẹn mà trước kia không thể nào bì kịp. Một buổi chiều, một con chó sói đói ở đâu đi kiếm mồi, chồm đến vồ Du Thản Chi. Y kinh hãi, đang định bỏ chạy nhưng con sói đã giương vuốt ra chộp vào đầu vai, nhe răng nhọn hoắt, định ngoặp vào cổ họng. Du Thản Chi hết sức kinh hoàng, tiện tay đánh một chưởng trúng ngay đầu con vật. Con chó sói đó văng ra xa, quằn quại mấy cái rồi nằm thẳng cẳng. Du Thản Chi quay người chạy ra mấy trượng thấy con chó sói vẫn nằm đó, trong bụng lạ lùng, nhặt một cục đá ném trúng ngay thân nhưng con chó sói vẫn nằm yên. Y vừa mừng vừa sợ, rón rén đến gần xem hóa ra con chó sói đã chết tự bao giờ.
Y thật không dám nghĩ tới chuyện mình chỉ tiện tay đánh một cái mà ghê gớm đến thế, giơ tay lên lật qua lật lại xem kỹ, không thấy có gì khác, nhịn không nổi kêu lên:
– Hồn ma con tằm này thiêng quá!
Y vẫn tưởng con tằm kia chết rồi hồn nó nhập vào người mình nên mới có tài phép như thế chứ có ngờ đâu đó hoàn toàn do công lực từ Thần Túc Kinh, lại thêm băng tằm là vật kịch độc hãn hữu, luồng âm hàn ghê gớm đó bị y hút vào trong người, theo cách tu tập nội công Du Già Thuật cổ quái của Thần Túc Kinh, nội lực có chứa âm kình cực kỳ ghê gớm.
Phạn văn Thần Túc Kinh là bảo điển chí cao vô thượng trong võ học, có điều pháp môn tu tập không phải dễ dàng, cần phải phá được cảnh giới ngã tướng, nhân tướng, trong bụng không còn nghĩ đến chuyện tu tập võ công. Thế nhưng tăng lữ tập môn thượng thừa này, ai chẳng muốn tinh tiến thật nhanh, mong cho chóng thành để công phu được ích lợi? Muốn đến được “Tâm vô sở trụ” quả thật là thiên nan vạn nan.
Trong mấy trăm năm qua, các cao tăng chùa Thiếu Lâm tu tập Dịch Cân Kinh không phải là ít, thế nhưng dụng công năm chày tháng tận, vẫn không mấy ai đạt được thành thử các nhà sư cho rằng kinh này không linh hiệu, hôm trước A Châu ăn cắp mất, tăng chúng trong chùa tức giận thật nhưng cũng không coi là chuyện lớn. Về
phần đồ hình Thần Túc Kinh được dược thảo ẩn đi là từ sách của một tu sĩ Thiên Trúc cổ, về sau cao tăng Thiên Trúc nhìn thấy kinh thư, đồ hình bị ẩn, lợi dụng là sách trắng, gián tiếp đưa tới trung thổ, dùng Phạn văn Dịch Cân Kinh do Đạt Ma Tổ Sư sáng chế viết ở trên, không ai có thể biết được là một sách hai kinh. Đến bây giờ Du Thản Chi vô tâm luyện công phu này, theo đồ hình Thần Túc Kinh gọi con băng tằm trong người bò ra bò vào cho đỡ buồn, có biết đâu công lực ngày một tiến bộ.
Mấy hôm sau y lại liên tiếp đánh chết thêm mấy con dã thú khác, bấy giờ mới biết chưởng lực của mình rất mạnh, trong bụng cũng can đảm thêm được một chút. Du Thản Chi tiếp tục đi về hướng nam, trong bụng ngay ngáy sợ rằng nếu mình bỏ quên không gọi hồn con băng tằm một ngày, ma tằm sẽ bỏ đi mất, thành thử ngày nào cũng phải kêu nó ra, không dám lơ là. Com ma tằm bây giờ cực kỳ linh dị, gọi là ra ngay.
Du Thản Chi đi càng lúc càng xa, hôm đó đã đến địa giới tỉnh Hà Nam ở trung châu. Y cũng biết cái đầu sắt của mình làm người ta sợ hãi nên ban ngày chỉ ẩn náu tại những sơn động hoang dã hay rừng sâu, bao giờ trời tối mới mò ra nhà dân chúng ăn trộm đồ ăn. Lúc này thân thủ y mẫn tiệp dị thường nên không bao giờ bị người ta phát giác.
Ngày hôm đó y chui vào một chiếc miếu hoang bên vệ đường nằm ngủ, bỗng nghe thấy tiếng bước chân, có ba người đi vào trong am. Y vội vàng chui xuống dưới bệ thờ, không dám để cho người ta thấy. Ba người đó đi vào trong miếu, ngồi xuống đất, lục đục ăn uống, nói năng chuyện trên giang hồ. Bỗng nhiên một người hỏi:
– Ngươi thử nghĩ Kiều Phong bây giờ trốn ở đâu, sao hơn một năm nay, không ai nghe thấy tin tức gì của y cả?
Du Thản Chi vừa nghe thấy hai tiếng Kiều Phong liền chột dạ, vội vàng cố lắng tai nghe. Lại nghe một người khác nói:
– Tên đó tác ác đa đoan bây giờ rụt đầu rụt cổ như con rùa, chắc không kiếm được y đâu.
Người nói lúc nãy lại tiếp:
– Chưa hẳn thế đâu. Y đợi đúng lúc mới ra tay, một khi người ta lơ là, lúc ấy mới hạ thủ. Ngươi thử nghĩ mà xem, sau khi đại chiến Tụ Hiền Trang rồi, y còn giết thêm bao nhiêu người nữa? Từ trưởng lão, vợ chồng Đàm công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn, toàn gia Thái Sơn Thiết Diện Phán Quan Đơn lão anh hùng, Trí Quang lão hòa thượng của núi Thiên Thai, rồi Mã phu nhân của Cái Bang, trưởng lão Bạch Thế Kính, ôi, quả là đếm không hết.
Du Thản Chi nghe đến đại chiến Tụ Hiền Trang, trong lòng đau xót nên những gì người đó nói sau không nghe thấy gì cả, một lúc sau mới nghe một giọng già nua:
– Kiều bang chủ xưa nay đãi người nhân nghĩa, không ngờ… ôi… không ngờ… quả thật là số kiếp nó làm ra thế. Thôi mình đi.
Nói xong ông ta đứng lên. Người kia nói:
– Này lão Uông, ông bảo bản bang đang bầu tân bang chủ, thế thì phải cử ai đây? Người già cả kia đáp:
– Nào ta có biết! Bầu tới bầu lui, đã hơn một năm rồi cũng chưa tìm ra một anh hùng hảo hán nào được toàn bang bội phục. Thôi, chúng mình đi xem sao.
Người kia nói:
– Thôi tôi biết bụng ông rồi, chắc ông mong Kiều Phong quay trở lại làm bang chủ chứ gì? Thôi đừng mơ mộng hão huyền nữa, lỡ chuyện đó truyền ra đến tai Toàn đà chủ thì ông khó sống đó!
Ông già họ Uông hốt hoảng nói:
– Tiểu Tất, câu đó là ngươi nói chứ ta có bao giờ bảo là mong Kiều bang chủ trở lại làm bang chủ bản bang đâu?
Tiểu Tất cười khẩy:
– Ông mở miệng ra là Kiều bang chủ này, Kiều bang chủ nọ chẳng phải bụng mong y về làm bang chủ hay sao?
Lão Uông bực tức đáp:
– Ngươi mà còn nói bậy nói bạ xem ta có đập chết cái đồ chó đẻ như ngươi không? Người thứ ba can:
– Thôi được rồi! Mình là chỗ anh em, đừng để mích lòng nhau, đi nhanh lên không lại trễ. Kiều Phong làm sao làm bang chủ của mình được? Y là giống Khất Đan chó má, mình gặp y là hai bên nhất định một sống một chết rồi. Vả lại, ví như mình mời y về làm bang chủ, chắc gì y đã chịu?
Lão Uông thở dài một tiếng nói:
– Ngươi nói thế phải lắm.
Nói xong cả ba người cùng đi ra khỏi miếu. Du Thản Chi nghĩ thầm: “Cái Bang muốn kiếm Kiều Phong mà kiếm không ra, bọn họ có biết đâu gã đó đang ở nước Liêu làm Nam Viện Đại Vương, ta phải nói cho họ biết mới được. Cái Bang người nhiều thế mạnh, lại ước định thêm anh hùng hảo hán Trung Nguyên may ra có thể giết được tên ác tặc đó. Ta sẽ theo bọn họ đi giết Kiều Phong”. Y nghĩ đến quay lại Nam Kinh sẽ gặp A Tử, trong ngực lập tức nóng bừng bừng.
Du Thản Chi rón rén từ trong miếu đi ra, thấy ba tên đệ tử Cái Bang đi đường núi về hướng tây, liền lẳng lặng theo sau. Lúc này trời đã tối mịt, hoang sơn không một bóng người, đi được vài dặm đến một thung lũng, nhìn xa xa nơi sơn cốc có một đống lửa. Du Thản Chi nghĩ thầm: “Cái đầu sắt của mình thật quái đản, bọn họ trông thấy thể nào cũng hô hoán rầm rĩ lên, chi bằng trốn trong bụi cỏ nghe ngóng rồi hãy tính”.
Y chui vào trong đám cỏ dày, bò dần đến gần đống lửa. Nhưng nghe thấy tiếng người xôn xao, xem ra người tụ tập chung quanh đám lửa không phải là ít. Du Thản Chi lâu nay từng chịu biết bao nhiêu hành hạ dày vò nên không dám sơ sẩy chút nào, bò càng gần càng chậm lại, tới sau một tảng đá cách chừng vài trượng thì không dám tiến xa hơn nữa nên nằm phục tại đó lắng tai nghe.
Những người chung quanh đống lửa ai nấy đều đứng nói chuyện, Du Thản Chi nghe một hồi mới biết ra đây là người của Đại Trí phân đà tụ hội thương nghị về việc đại hội Cái Bang sắp tới sẽ suy cử ai lên làm bang chủ. Có người chủ trương đề cử Tống trưởng lão, có người lại muốn Ngô trưởng lão. Một người nói:
– Nói đến trí dũng song toàn thì phải bầu cho Toàn đà chủ của bản bang, tiếc rằng Toàn đà chủ hôm trước đã bị tên Kiều Phong giả công vi tư đuổi ra khỏi bang rồi, việc quay trở lại bang chưa ổn thỏa.
Lại một người khác nói:
– Gian mưu của Kiều Phong chính là do Toàn đà chủ đứng ra vạch trần, Toàn đà chủ lập được đại công cho bản bang, việc trở lại thật dễ dàng. Một khi đại hội khai mạc, chúng ta trước hết lo việc Toàn đà chủ quy bang, sau đó mới nói đến công lao khi trước, rồi bầu ông ta lên làm bang chủ.
Một giọng sang sảng cất lên:
– Việc bản nhân trở lại bang cũng là chuyện thuận lý. Thế nhưng việc các huynh đệ bầu mỗ lên làm bang chủ thì chưa nên đề cập đến vội, nếu không người khác lại tưởng huynh đệ vạch trần gian mưu của Kiều Phong là có ý đồ riêng tư.
Một người khác lớn tiếng nói:
– Toàn đà chủ, nếu gặp việc thì đương nhân bất nhượng. Ta xem trong mấy vị trưởng lão của bản bang, võ công tuy cao cường thật nhưng kể về mưu trí thì không ai bì kịp với ông được. Chúng ta đối phó với tên gian tặc Kiều Phong, là việc đấu trí chứ không phải đấu sức, Toàn đà chủ…
Gã Toàn đà chủ kia ngắt lời:
– Thi huynh đệ, ta chưa chính thức trở lại bang, ba chữ Toàn đà chủ xin đừng gọi thế vội.
Hơn hai trăm người ăn mày đang đứng quanh đống lửa nhao nhao lên:
– Tống trưởng lão đã có dặn rằng nhờ ông tạm thời giữ chức đà chủ bản đà, ba chữ Toàn đà chủ kia có gì mà không được?
– Tương lai ông lên làm bang chủ, thì chẳng còn hơn chức đà chủ hay sao?
– Toàn đà chủ nếu chưa đảm đương bang chủ thì ít nhất cũng phải lên chức trưởng lão, nhưng khi đó cũng phải kiêm lãnh cả bản đà.
– Đúng lắm, dẫu Toàn đà chủ có làm bang chủ vẫn có thể kiêm luôn cả chức đà chủ Đại Trí phân đà.
Còn đang bàn luận xôn xao, một bang chúng từ cửa sơn cốc chạy vào, lớn tiếng báo:
– Khải bẩm đà chủ, Đoàn vương tử nước Đại Lý xin bái phỏng.
Toàn đà chủ Toàn Quan Thanh lập tức đứng bật dậy, mặt đổi sắc, hỏi:
– Đoàn vương tử nước Đại Lý ư? Y tự mình đến gặp ta, thật là nể mặt! Y liền lớn tiếng nói:
– Các vị huynh đệ, Đoàn gia nước Đại Lý là thế gia trứ danh trong võ lâm, Đoàn vương tử tự mình đến đây, tất cả cùng đứng lên nghênh tiếp.
Nói xong tất lãnh mọi người cùng đi ra ngoài sơn khẩu đón khách. Chỉ thấy một thanh niên công tử mặt mày tươi tỉnh đứng ngay tại đó, đằng sau có bảy tám người tùy tòng. Thanh niên đó chính là Đoàn Dự, hai người chắp tay chào, hóa ra biết nhau rồi, đã từng gặp ở trong rừng hạnh ngoài thành Vô Tích. Toàn Quan Thanh lúc đó chưa biết lai lịch, thân phận Đoàn Dự, nghĩ lại khi đó mình bị Kiều Phong đuổi ra khỏi bang Đoàn Dự đều biết cả, không khỏi ngượng ngùng, nhưng lập tức trấn tĩnh ngay, ôm quyền nói:
– Không biết Đoàn vương tử tới thăm nên không ra xa nghinh tiếp, xin lượng thứ cho.
Đoàn Dự cười đáp:
– Không dám! Không dám! Vãn sinh phụng mệnh gia phụ, có một việc muốn phụng cáo quý bang cho nên mới đến làm phiền.
Hai người nói mấy câu khách sáo, Đoàn Dự giới thiệu đi cùng là Cổ Đốc Thành, Phó Tư Quy, Chu Đan Thần ba người. Toàn Quan Thanh mời Đoàn Dự đến ngồi tại một phiến đá trước đống lửa, sau đó bang chúng đem rượu ra mời. Đoàn Dự tiếp lấy uống cạn rồi nói:
– Hơn một năm trước, gia phụ ở tại Tín Dương có đến phủ của cố Mã phó bang chủ quý bang, được Lữ trưởng lão của quý bang tiếp đãi, lại không truy cứu việc gia phụ thất lễ với quý bang, thật là cảm kích. Gia phụ muốn đích thân đến tổng đà quý bang tạ tội, có điều gia phụ thụ thương, dưỡng bệnh đến nay mới đỡ mà các trưởng lão trong bang hành tung vô định, không sao gặp được, khiến cho phong thư gia phụ viết vẫn chưa có cách nào trình lên. Mấy bữa trước gia phụ nghe tin quý đà tụ hội nơi đây nên mới sai vãn sinh đưa tới. Thứ nhất là để truyền tin, thứ hai là để tạ tội, cũng xin dâng chút lễ mọn.
Nói xong chàng lấy trong tay áo ra một phong thư, đứng lên đưa ra. Chu Đan Thần cũng trình lên một bao lễ vật. Toàn Quan Thanh hai tay nhận lấy nói:
– Phải phiền đến Đoàn công tử đích thân đưa thư, lại ban tặng hậu lễ, cái tấm lòng thương yêu của Đoàn vương gia khiến cho tất cả tệ bang từ trên xuống dưới ai ai cũng cảm đại đức.
Y nhìn thấy phong thư đó gắn rất kỹ, trên phong bì viết mười chữ lớn: “Cẩn trình Cái Bang chư vị trưởng lão thân khải”. Y nghĩ thầm tự mình không tiện mở ra xem bèn nói:
– Tệ bang không lâu nữa sẽ khai đại hội, các trưởng lão sẽ đều đến cả, tại hạ sẽ đem thư của Đoàn vương gia trình lên cho chư vị trưởng lão.
Đoàn Dự nói:
– Như thế xin phiền vậy, vãn sinh cáo biệt.
Toàn Quan Thanh luôn mồm cảm ơn, tiễn khách ra rồi mới nói:
– Bạch trưởng lão và Mã phu nhân của tệ bang bất hạnh bị gian tặc Kiều Phong hạ độc thủ, hôm đó chính mắt Đoàn vương gia trông thấy hay sao?
Đoàn Dự lắc đầu:
– Bạch trưởng lão và Mã phu nhân không phải do Kiều đại ca giết hại đâu, sát hại Mã phó bang chủ cũng là người khác. Ngày đó gia phụ cùng đám người Lữ
trưởng lão chính tai nghe được hung thủ tự bạch chân tướng. Toàn đà chủ nên hỏi đám người Lữ trưởng lão để biết được tình hình cụ thể.
Chàng trong bụng nghĩ thầm: “Việc này nói ra dài dòng, nhà ngươi đâu phải là người tốt, không nên nói nhiều làm gì. Các ngươi người một nhà nội bộ đánh nhau, cứ để cho người nhà các ngươi nói đi!”. Đoàn Dự quay sang ôm quyền chào Toàn Quan Thanh nói:
– Sau này gặp lại, không dám phiền chư vị tiễn ra xa.
Chàng quay mình đi ra sơn cốc, vừa trở đầu đã thấy hai tên bang chúng Cái Bang dẫn hai hán tử tiến vào. Hai người đó đưa mắt cho nhau, đi lên mấy bước khom lưng hành lễ với Đoàn Dự, trình lên một tờ danh thiếp màu đỏ chói. Đoàn Dự cầm lấy xem qua, thấy trên tờ thiếp viết bốn hàng chữ:
Tô Tinh Hà cung kính mời những vị tinh thông kỳ nghệ trong thiên hạ, đến ngày mười lăm tháng sáu giá lâm hang Thiên Lung Địa Á, núi Lôi Cổ, Nhữ Nam để gặp gỡ một phen.
Đoàn Dự vốn thích đánh cờ thấy bốn hàng chữ đó, tinh thần phấn chấn vui vẻ nói:
– Thế thì hay lắm, nếu vãn sinh không có chuyện tục vụ gì vướng bận, thể nào cũng đến. Thế nhưng xin hỏi tại sao hai vị lại biết vãn sinh thích đánh cờ?
Hai hán tử lộ vẻ vui mừng, mồm ú ớ, giơ tay múa chân, hóa ra hai người đó bị câm. Đoàn Dự không hiểu hai người đó chỉ trỏ ra hiệu những gì, mỉm cười hỏi Chu Đan Thần:
– Núi Lôi Cổ có xa lắm không?
Nói xong chàng giao tờ thiếp lại cho ông ta. Chu Đan Thần cầm lấy xem qua, trước hết vòng tay hành lễ với hai người kia nói:
– Trấn Nam Vương thế tử Đoàn công tử nước Đại Lý, xin gửi lời chào đến Thông Biện tiên sinh, trước hết tạ ơn bao giờ đến kỳ sẽ đến bái phỏng.
Ông ta chỉ vào Đoàn Dự, chỉ trỏ mấy cái biểu thị sẽ đến phó hội. Hai hán từ khom lưng hành lễ với Đoàn Dự, sau đó lại lấy ra một tờ thiếp nữa đưa cho Toàn Quan Thanh. Toàn Quan Thanh cầm lấy xem qua, cung kính trả lại xua tay nói:
– Người tạm lãnh chức Phân Đà Chủ Đại Trí phân đà của Cái Bang là Toàn Quan Thanh, xin kính chào Thông Biện tiên sinh núi Lôi Cổ, Toàn mỗ kỳ nghệ kém cỏi, chẳng bõ làm trò cười, không dám phó hội, xin Thông Biện tiên sinh tha lỗi cho. Hai hán tử khom lưng hành lễ, sau đó quay qua chào Đoàn Dự, chuyển thân đi ra. Chu Đan Thần lúc đó mới trả lời Đoàn Dự:
– Lôi Cổ Sơn ở phía nam Thượng Thái, Nhữ Châu, đến đó cũng không xa lắm.
Đoàn Dự từ biệt Toàn Quan Thanh rồi, ra khỏi thung lũng lúc đó mới hỏi Chu Đan Thần:
– Thông Biện tiên sinh Tô Tinh Hà là người thế nào? Là quốc thủ về đánh cờ ở Trung Nguyên hay sao?
Chu Đan Thần đáp:
– Thông Biện tiên sinh chính là Lung Á tiên sinh.
Đoàn Dự ồ lên một tiếng, cái tên Lung Á tiên sinh chàng ở Đại Lý đã từng nghe bá phụ và phụ thân nhắc tới, biết đó là một cao thủ kỳ túc của võ lâm Trung Nguyên, vừa điếc vừa câm nhưng nghe nói võ công lại rất cao cường, khi đề cập đến ông ta giọng của bác chàng xem chừng kính trọng. Chu Đan Thần lại tiếp:
– Lung Á tiên sinh tuy tàn tật nhưng nhất định tự xưng mình là Thông Biện tiên sinh, cho rằng mình tâm thông, bút biện còn hơn xa người thường nhĩ thông, thiệt biện.
Đoàn Dự gật đầu nói:
– Kể cũng có lý.
Chàng đi thêm mấy bước bỗng cất tiếng thở dài. Đoàn Dự nghe Chu Đan Thần nói Lung Á tiên sinh tâm thông, bút biện hơn cả người thường nhĩ thông, thiệt biện không khỏi chạnh lòng nhớ tới Vương Ngữ Yên đánh võ miệng còn giỏi hơn người ta đánh võ tay chân binh khí.
Ngày ấy chàng ở thành Vô Tích cùng A Châu cứu được bọn người Cái Bang rồi, chẳng bao lâu Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác hai người đến tụ hội với Vương Ngữ Yên,
hai nàng Châu Bích. Năm người đó muốn lên miền bắc đi kiếm Mộ Dung công tử, Đoàn Dự dĩ nhiên cũng muốn đi theo, Phong Ba Ác nhớ ơn chàng đã dùng mồm hút nọc độc con bò cạp nên rất hoan nghênh, có điều Bao Bất Đồng ăn nói cực kỳ sỗ sàng, trách cứ Đoàn Dự giả trang làm Mộ Dung công tử làm bại hoại tiếng tăm y đi. Đến sau y tỏ ý ngươi không cút đi, ta sẽ đập cho một trận, trong khi Vương Ngữ Yên chỉ lo bàn với Phong Ba Ác cách nào kiếm được biểu ca, coi tình cảnh quẫn bách của Đoàn Dự như không biết đến.
Chỉ có A Bích trong ánh mắt lộ ra ý muốn cùng Đoàn Dự đồng hành, nhưng nàng ngại ngùng không dám nói ra. Đoàn Dự chẳng còn biết sao hơn đành phải chia tay cùng mọi người nhà Mộ Dung, Nghĩ rằng từ lúc bị Cưu Ma Trí bắt lên phía bắc, bá phụ cùng cha mẹ tất nhiên sẽ biết, mà chính mình cũng nhớ người thân, liền quay về Đại Lý.
Ở Đại Lý hơn một năm, Đoàn Dự ngày ngày nhớ mãi không quên được khuôn mặt của Vương Ngữ Yên, tuy biết phen này tương tư không có thiện quả, nhưng ý nghĩ trong đầu khó có thể dứt bỏ, không khỏi ngày càng tiều tụy.
Đoàn Chính Thuần hôm đó cùng Mã phu nhân tư hội ở nhà Mã Đại Nguyên, suýt nữa mất mạng, đám người Lữ trưởng lão Cái Bang xông đến, đưa ông ra ngoài. Đoàn Chính Thuần cảm thấy xấu hổ, lại thật cảm kích. Ông bị Mã phu nhân gây thương tích, nội lực xung kích, bị bệnh, buộc phải nằm giường ở Trung Nguyên dưỡng thương, kì thực là ở Dự Nam cùng Nhuyễn Tinh Trúc hưởng thụ hạnh phúc. Đoàn Chính Thuần phái Phó Tư Quy trở về Đại Lý bẩm báo rõ nguyên do cho Bảo Định Đế. Đoàn Dự ở bên cạnh nghe xong, vừa lúc lấy ngay được cớ, bẩm báo với Bảo Định Đế, liền theo Phó Tư Quy về lại Trung Nguyên, gặp mặt phụ thân.
Cha con xa cách lâu ngày gặp lại, đều vui mừng khôn tả, Đoàn Dự nói qua tình hình lúc xa cách. Nguyễn Tinh Trúc đối với vị công tử này tận tình săn sóc, A Tử lại sớm không biệt mà đi, huynh muội chưa được gặp nhau. Đoàn Chính Thuần cùng Nguyễn Tinh Trúc thấy chuyện A Châu, A Tử rất xấu hổ, chỉ nói vắn tắt vài ba câu. Đoàn Dự biết là chuyện thường của phụ thân, cũng không thấy kì lạ, liền không hỏi đến. Hôm đó Đoàn Dự phụng mệnh cha, dẫn theo Cổ Đốc Thành, Phó Tư Quy, Chu Đan Thần đến Cái Bang tạ ơn.
Chu Đan Thần thấy chàng thở vắn than dài, không biết là chàng đang nhớ Vương Ngữ Yên, lại tưởng chàng mong nhớ Mộc Uyển Thanh, việc này không thể nào khuyên giải gì được, nghĩ bụng cách tốt nhất là làm cho chàng phân tâm qua chuyện khác nên nói:
– Vị Thông Biện tiên sinh này phát thiếp rộng rãi mời thiên hạ đến đánh cờ, kỳ lực ắt phải cao lắm. Công tử gia sau khi bái kiến Trấn Nam Vương rồi, cũng nên đến gặp Thông Biện tiên sinh đánh vài ván xem sao!
Đoàn Dự gật đầu đáp:
– Đúng đó! Cuộc đen trắng cũng là cách tiêu khiển khiến cho con người bớt ưu phiền. Có điều tuy nàng tinh thông các môn phái võ công thiên hạ, bụng chứa binh giáp, muôn nhà muôn vẻ nhưng lại không biết đánh cờ. Buổi hội ngộ đấu cờ của Thông Biện tiên sinh, chắc nàng không tới đâu!
Chu Đan Thần ngơ ngẩn hoang mang, không biết chàng đang nói đến ai, trên đường đi thấy công tử hồn vía đâu đâu, câu trước đầu Ngô, câu sau mình Sở nghe cũng đã nhiều nên không tiện gặng hỏi. Cả đoàn người rong ruổi chạy về hướng tây bắc. Đoàn Dự ngồi trên lưng ngựa, lúc thì nhíu tít lông mày, lúc lại cười mủm mỉm, lẩm bẩm một mình:
– Kinh Phật có dạy rằng: Khi nghĩ đến mỹ nữ thì hãy nhớ thân thể ai thì cũng chỉ là máu mủ, một trăm năm sau thì cũng thành một bộ xương trắng mà thôi. Lời nhà Phật tuy không sai nhưng người như nàng dù có một trăm năm nữa hóa thành bạch cốt, thì mớ xương đó cũng đẹp hơn những bộ xương người thường.
Chàng còn đang mơ màng nghĩ đến bộ xương trong người Vương Ngữ Yên ra thế nào, bỗng nghe thấy phía sau có tiếng chân dồn dập, hai con ngựa ở đâu chạy tới, trên yên mỗi con nằm phục một người, trong lúc trời tối không nhìn rõ là hạng người nào.
Hai con ngựa đó dường nhưng không ai cầm cương, chạy xông đến bọn Đoàn Dự. Phó Tư Quy và Cổ Đốc Thành hai người chia ra mỗi người giữ một con lại, thấy người nằm trên đó không còn cử động gì nữa. Phó Tư Quy hơi kinh hãi, lại gần xem cho kỹ hóa ra chính là hai sứ giả của Lung Á tiên sinh, trên mặt nở một nụ cười kỳ bí, đều đã chết cả rồi. Hai người này vừa mới đây đưa thiếp mời Đoàn Dự còn khỏe như vâm, sao chỉ quay đi quay lại đã lăn ra chết là sao? Họ đều là sứ giả của Lung Á tiên sinh, sao nét mặt lại kỳ lạ như thế? Phó Tư Quy vừa thoạt nhìn biết ngay hai người bị trúng chất cực độc vội kéo cương ngựa lùi lại hai bước không dám đứng gần hai cái tử thi.
Đoàn Dự giận dữ nói:
– Gã họ Toàn của Cái Bang độc ác thật, tại sao lạ hạ thủ những người này? Ta phải hỏi cho ra lẽ.
Chàng trở đầu ngựa, toan quay lại tra vấn Toàn Quan Thanh. Phía trước trong bóng tối có người lên tiếng hỏi:
– Tên tiểu tử kia chẳng biết trời cao đất dày là gì, khắp thiên hạ trừ môn hạ Tinh Tú lão tiên ra thì có ai mà giết người một cách vô hình như thế được? Lão già câm điếc rụt đầu rùa trốn một chỗ thì còn được chứ nếu thò mặt ra thì Tinh Tú lão tiên không tha cho y đâu. Này, thằng bé kia, chuyện không liên can gì đến ngươi, mau cút đi nơi khác.
Chu Đan Thần ghé tai Đoàn Dự nói nhỏ:
– Công tử, đây là người của phái Tinh Tú, mình không nên dây dưa với họ, đi thôi!
Đoàn Dự tìm không thấy Vương Ngữ Yên nên đang rảnh rỗi, hai sứ giả của Lung Á lão nhân gặp chuyện nguy hiểm, chàng thể nào cũng xông lên cứu viện, nhưng lúc này lại chết rồi, nên cũng không muốn rắc rối, thở dài một tiếng nói:
– Nếu chỉ mới miệng câm tai điếc thì cũng chưa đủ, còn phải thêm mắt mù, mũi không ngửi thấy mùi hương, trong lòng không còn ý niệm gì thì mới mong giải thoát khỏi phiền não.
Chàng nói đây là nói về nếu gặp lại Vương Ngữ Yên, giọng nói hình dáng, nhất cử nhất động của nàng đã ăn sâu vào tâm khảm mình rồi, dẫu có vừa câm vừa điếc thì nỗi nhớ mong cũng đâu có vì thế mà dứt được. Ngờ đâu người phía bên kia nghe chàng nói thế lại cười hềnh hệch, vỗ tay nói:
– Đúng đó! Đúng đó! Ngươi nói thật có lý, phải chọc mù mắt y đi, cắt mũi y đi, rồi đánh cho y đến khi nào phải đổi ý mới xong.
Đoàn Dự thở dài:
– Ngoại lực dù có ép thế nào chăng nữa thì cũng chẳng đến đâu. Phải chính bản thân mình tu hành sao cho tâm không bám vào những gì nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy, sờ thấy mà phải đạt tới chỗ vô trụ xứ có thế mới rời xa được hình tướng, trở thành bồ tát. Chúng ta là kẻ phàm phu tục tử, làm sao tu đến mức đó được? Ghét nhau mà phải ở gần nhau, yêu nhau mà phải xa nhau, muốn mà không được năm nhóm đó thiêu đốt con người cho nên sống trên đời mới đầy đau khổ.
Du Thản Chi nằm trong đám cỏ phía sau tảng đá thấy bọn Đoàn Dự đi rồi quay trở lại, sau đó phía trước có tiếng người quát tháo, vừa lúc đó hai tên đệ tử Cái Bang chạy đến, nói nhỏ với Toàn Quan Thanh:
– Toàn đà chủ, hai gã câm kia không hiểu sao bị người ta giết rồi, kẻ hạ thủ tự xưng là thủ hạ của cái gì Tinh Tú lão tiên phái Tinh Tú.
Toàn Quan Thanh kinh hãi, mặt liền biến sắc. Y đã từng nghe tiếng Tinh Tú Lão Quái ở biển Tinh Tú chuyên sử chất độc cực mạnh, võ công cũng thật cao cường nghĩ thầm: Bọn họ giết sứ giả của Lung Á lão nhân, chuyện này không liên can gì đến mình, chẳng nên gây chuyện với họ làm gì. Y liền nói:
– Ta biết rồi, bọn chúng hai đằng quỷ đánh với ma, mình chẳng dây vào. Đột nhiên trước mặt có tiếng người nói:
– Bọn chúng bay ăn nói láo lếu, đã biết ta là môn hạ của Tinh Tú lão tiên, sao dám chửi ta là ma là quỷ? Bộ ngươi không muốn sống hay sao?
Toàn Quan Thanh kinh hãi, giật mình lùi lại một bước, dưới ánh lửa thấy một người đứng sừng sững trước mặt, chính là một tên bang chúng thủ hạ. Y chăm chú quan sát kỹ, gã đó trông cười mà chẳng ra cười, hình dạng thật kỳ bí, dường như sau lưng y còn có ai nữa thì phải, bèn quát lên:
– Các hạ là ai, giả ma giả quỷ dọa người để làm gì thế? Người nấp ở sau gã đệ tử Cái Bang giọng lạnh như tiền nói:
– Quả là to gan! Ngươi lại nói thêm một chữ quỷ. Lão tử là môn hạ Tinh Tú lão tiên, Tinh Tú lão tiên giá lâm Trung Nguyên, đang cần ngay hai chục con rắn độc, một trăm con trùng độc. Các ngươi trong Cái Bang xưa nay lúc nào cũng sẵn độc trùng, độc xà, mau mau dâng lên coi. Tinh Tú lão tiên thấy các ngươi ngoan ngoãn dễ bảo may ra tha cho bọn ăn mày khốn khó. Còn nếu không, hà hà, tất cả cũng như tên này thôi. Nghe bình một tiếng, tên đệ tử Cái Bang đột nhiên bay tung lên, rơi bịch xuống cạnh đống lửa, không còn động đậy gì nữa, hóa ra chết từ bao giờ. Gã đệ tử đó vừa văng đi, để lộ ra một gã thấp bé mặc áo vải, không biết y đã lẻn tới từ lúc nào mà lại giết được một đệ tử Cái Bang rồi náu ở đằng sau như thế.
Toàn Quan Thanh vừa kinh hãi vừa tức giận, nghĩ thầm: “Tinh Tú Lão Quái đổ lên đầu Cái Bang, việc trước mắt nếu không khuất phục thì đến phải một mất một còn. Việc này tuy hung hiểm thật nhưng nếu y chỉ mới dọa một câu, ta đã đem rắn độc trùng độc dâng lên thì anh em trong bang từ nay còn coi ta vào đâu nữa. Ta dĩ nhiên không còn dám tơ tưởng cái chức bang chủ mà cũng chẳng còn mặt mũi nào ở trong bang. Cũng may Tinh Tú Lão Quái chưa đích thân đến đây, chỉ mới có một mình gã này, không có gì phải sợ cả”. Y nghĩ thế nên cười khì khì nói:
– Thì ra đây là nhân huynh của phái Tinh Tú, cao tính đại danh đại tiên là gì? Gã lùn đáp:
– Pháp danh ta là Thiên Lang Tử. Ngươi mau mau dự bị cho đủ độc trùng độc xà đi thôi.
Toàn Quan Thanh cười đáp:
– Đại tiên nếu cần độc trùng độc xà thì cũng chỉ là chuyện cỏn con, có gì mà phải lo lắng?
Y tiện tay cầm một chiếc túi vải ở dưới đất lên nói:
– Trong đây có mấy con rắn, đại tiên xem thử xem Tinh Tú lão tiên dùng có được không?
Gã lùn Thiên Lang Tử kia thấy Toàn Quan Thanh mở miệng nói Tinh Tú lão tiên, lại gọi mình là đại tiên, trong lòng cực sung sướng, thấy y thần thái cung thuận, nghĩ thầm: Nghe nói gì Cái Bang là bang lớn số một của Trung Nguyên, vừa nghe tên của sư phụ lão nhân gia đã sợ đến mất vía. Ta đem mấy con rắn độc trùng độc về, chắc sư phụ hoan hỉ lắm, sẽ khen ta chu đáo, được việc. Nói gì thì nói, cũng là nhờ uy danh của sư phụ lão nhân gia.
Nghĩ thế y bèn thò đầu vào túi vải để xem. Đột nhiên mắt tối sầm, cái túi đó đã chụp lên đầu y, Thiên Lang Tử kinh hãi, vội vàng múa chưởng đánh ra nhưng không trúng vào đâu cả. Vừa khi đó, trên mặt, trên trán, sau ót đều đau nhói lên, đã bị độc vật trong túi cắn trúng rồi. Thiên Lang Tử không kịp bỏ chiếc túi trên đầu xuống, vội đánh ra hai chưởng nữa rồi bỏ chạy thục mạng. Y trên đầu vẫn còn chiếc túi nên không thấy đường, tay đánh loạn xạ, chỉ thấy khắp đầu, khắp mặt chỗ nào cũng bị cắn, đau đớn không chịu nổi, càng hoảng hốt thêm cứ tiếp tục chạy cho nhanh, ngờ đâu bước hụt một cái, lục tục từ trên triền núi lăn xuống, rơi tõm ngay vào khe suối dưới thung lũng, theo dòng trôi đi.
Toàn Quan Thanh vốn dĩ định giết y bịt miệng, ngờ đâu y lại chạy mất. Tuy y đã bị bò cạp cắn trúng rồi, lại rơi xuống suối, tính mạng khó bảo toàn, nhưng phái Tinh Tú vốn giỏi sử dụng độc vật, rất có thể y có cách giải độc, còn ở vùng biển Tinh Tú thì chắc biết bơi. Nếu như gã này không chết, phái Tinh Tú hay được, thể nào cũng tới báo thù. Y trầm ngâm giây lát rồi nói:
– Chúng ta bố trí Cự Mãng Trận, hơn thua với phái Tinh Tú một phen. Không lẽ Kiều Phong đi khỏi, Cái Bang chúng ta không còn đứng vững được nữa, ai sai bảo
gì cũng được hay sao? Phái Tinh Tú biết sử dụng chất độc, mình không nên dùng quyền cước binh khí mà cũng phải dĩ độc công độc.
Người của Cái Bang nhao nhao khen phải, lập tức giàn ra bốn bề, bố trí trận thế cách đống lửa mấy trượng, người người ngồi xuống xếp bằng. Du Thản Chi thấy Toàn Quan Thanh dùng túi vải đuổi được Thiên Lang Tử chạy mất nghĩ thầm: “Thì ra trong cái túi của y có độc vật, bọn họ có nhiều túi vải như thế, túi nào cũng toàn là rắn độc trùng độc hay sao? Bọn ăn mày giỏi nghề bắt trùng bắt rắn không có gì lạ. Nếu mình ăn cắp được vài cái túi đem về cho A Tử cô nương chắc cô ta vui mừng lắm”.
Y thấy người của Cái Bang ngồi xuống rồi không ai nói năng một lời, người nào bên cạnh cũng để mấy cái túi, có cái thì thật lớn, bên trong có gì cục cựa, Du Thản Chi nhìn mà lạnh người, nghĩ thầm: “Nếu bọn họ chụp chiếc túi lên đầu mình, mình có cái lồng sắt không việc gì phải sợ, thế nhưng nếu chúng bắt mình bỏ luôn vào bao chung với rắn rết thì mới thực là hỡi ôi!”.
Mấy giờ sau đó vẫn không thấy động tĩnh gì, lại thêm một hồi nữa, trời bắt đầu tờ mờ sáng rồi mặt trời nhô lên, chiếu khắp núi đồi. Trên đầu cành chim hót líu lo, bỗng nghe Toàn Quan Thanh kêu khẽ:
– Đến rồi! Tất cả anh em đề phòng!
Y ngồi xếp bằng trên một phiến đá bên ngoài xà trận, bên cạnh cũng để mấy cái túi, tay cầm thiết địch. Chỉ nghe phía tây bắc văng vẳng tiếng đàn tiếng sáo, một đoàn người chậm rãi đi lên, trong tiếng nhạc có lẫn cả chiêng trống, nghe rất là réo rắt. Du Thản Chi tự hỏi: “Có đám cưới chăng?”.
Tiếng nhạc càng lúc càng gần, đến cách xa chừng mươi trượng thì ngừng lại, có tiếng mấy người cùng cất lên:
– Tinh Tú lão tiên pháp giá Trung Nguyên, đệ tử Cái Bang mau mau tiến lên quỳ xuống nghênh tiếp.
Câu nói vừa dứt, lập tức trống đánh tùng tùng tùng. Ba hồi trống vừa dứt, thanh la đánh choang một cái, tiếng trống liền ngưng bặt, mấy chục người cùng cao giọng:
– Cung thỉnh Tinh Tú lão tiên hoằng thi đại pháp, hàng phục bọn tiểu xú Cái Bang.
Du Thản Chi nghĩ thầm: “Nghe như đạo sĩ làm phép trừ tà bắt ma”. Y len lén từ sau tảng đá thò đầu ra nhìn, thấy nơi phía tây bắc có đến hơn hai chục người xếp thành hàng ngang, kẻ thì cầm chiêng trống nhạc khí, kẻ thì cầm phướn cầm cờ, cái xanh cái đỏ trông thật đẹp đẽ, xa xa thấy thấp thoáng trên những lá cờ đó có thêu: Tinh Tú lão tiên, thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, uy chấn thiên hạ… nhiều câu khác nhau. Trong tiếng tơ tiếng sáo dặt dìu, một ông lão chậm rãi bước ra, những người đứng sau lưng lập tức chia thành hai hàng, lẽo đẽo đi theo cách xa ông ta chừng vài trượng.
Ông lão đó tay cầm một chiếc quạt bằng lông ngỗng, ánh mặt trời chiếu vào, thấy mặt mũi hồng hào, tóc trắng như bông, dưới cằm là ba chòm râu trắng như cước, đồng nhan hạc phát, thật chẳng khác gì người trong truyện thần tiên.
Ông lão đó đi đến còn cách bọn ăn mày chừng ba trượng thì ngừng lại, lấy một cây sáo bằng sắt kề lên môi, tụ lực thổi ra, phát ra tiếng thật chói tai, giơ quạt phất một cái đẩy tiếng sáo tới, bốn tên bang chúng Cái Bang ngồi dưới đất lập tức ngã ngửa ra.
Du Thản Chi kinh hãi: “Tinh Tú lão tiên này pháp thuật quả nhiên quảng đại thật”. Ông lão nở một nụ cười, thổi toe một tiếng, quạt phẩy ra, lại có một người ngã, xem chừng tiếng thổi là một loại ám khí vô hình cực kỳ lợi hại, chỉ trong phút chốc trong Cái Bang đã có sáu bảy người lăn quay ra. Kì thực đánh ngã nhân chúng Cái Bang không phải là tiếng thổi sáo, mà là y đã phun ra độc phấn từ cây sáo, lấy quạt lông đẩy đi đả thương người.
Chỉ nghe đằng sau ông lão, tiếng người ca tụng rộn lên:
– Công lực sư phụ chói lọi cổ kim! Bọn ăn mày kia dám đối đầu với mình, thật đúng là đom đóm lập lòe đua tranh cùng vầng nhật nguyệt.
– Châu chấu đá xe quả không biết lượng sức mình, thật tức cười quá đỗi!
– Sư phụ chỉ nói nói cười cười mà đưa cả bọn yêu ma tiểu xú Cái Bang vào chỗ chết, thật dễ như bẻ củi mục mà được toàn thắng, đồ nhi thật chưa từng thấy, đến nghe cũng chưa nghe tới bao giờ.
– Đây là công nghiệp vĩ đại trên đời chưa từng có, nếu sư phụ lão nhân gia không lộ một chút thân thủ thì bọn võ học Trung Nguyên nào có biết trên đời lại có công phu ghê gớm đến mức này.
Trong khi cả bọn ca công tụng đức, nghe chối cả tai thì tiếng ti trúc quản huyền vẫn tấu lên thật là réo rắt.
Ông lão đồng nhan hạc phát kia chính là người mà võ lâm nhân sĩ Trung Nguyên ghét cay ghét đắng Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu. Vì một trong tam bảo của phái Tinh Tú là Thần Mộc Vương Đỉnh bị nữ đệ tử A Tử ăn cắp mất, liên tiếp phái các đệ tử ra đuổi bắt, thậm chí cả đại đệ tử Trích Tinh Tử cũng sai đi nhưng lần nào bồ câu đem thư về cũng thấy tình thế thật là bất lợi. Về sau ông ta nghe nói A Tử dựa vào thế tỉ phu là Kiều Phong bang chủ của Cái Bang, đánh bại Trích Tinh Tử bị thương sống dở chết dở, Đinh Xuân Thu vừa tức tối vừa kinh hoàng, biết Cái Bang là bang hội lớn nhất trong võ lâm Trung Nguyên không dễ gì đối phó, lại nghe Lung Á lão nhân tái xuất đầu lộ diện, mối lo trong gan ruột kia chưa trừ được thì không yên tâm, một khi đoạt lại được vương đỉnh rồi phải thừa cơ thanh toán cho xong chuyện cũ, thành thử đem hết đệ tử đích thân đi vào Trung Nguyên.
Môn Hóa Công Đại Pháp y luyện thường phải dùng các loại chất độc của rắn rết bôi lên lòng bàn tay, hút vào trong người, nếu bảy ngày không có thì không những công lực giảm thiểu. Chiếc Thần Mộc Vương Đỉnh trời sinh có một mùi kỳ lạ, lại thêm hương liệu đốt ở trong đỉnh, chỉ trong giây lát là có thể dẫn dụ độc vật đến, trong vòng mười dặm chung quanh khó có con vật nào gượng lại nổi sức thu hút của nó. Năm đó Đinh Xuân Thu có chiếc kỳ đỉnh đó trong tay nên bắt trùng độc chẳng khó khăn gì, thành thử Hóa Công Đại Pháp càng luyện càng cao thâm, càng luyện càng tinh tiến. Môn Hóa Công Đại Pháp Đinh Xuân Thu truyền thụ rất bí mật. Thành thử bọn Trích Tinh Tử không một ai biết, A Tử muốn luyện môn thần công này đành phải học lén, ăn cắp bảo đỉnh trốn đi.
A Tử tính toán thật kỹ, ngay hôm sư phụ mới bắt được độc vật luyện công liền trốn về phương đông, đến khi Tinh Tú Lão Quái phát giác ra Thần Mộc Vương Đỉnh bị ăn trộm thì đã bảy ngày, A Tử đi đã xa lắm rồi.
Nàng đi toàn theo đường nhỏ, các sư huynh truy nã tuy võ công cao hơn cô ta nhiều nhưng mưu kế lại kém xa, bị A Tử liên tiếp dùng ngụy kế hư trương thanh thế, thanh đông kích tây nên đều trốn thoát được.
Vùng Tinh Tú Lão Quái ở là một thâm cốc rậm rạp tối tăm, độc xà độc trùng không hiếm gì, tuy mất Thần Mộc Vương Đỉnh nhưng muốn đi bắt rắn để thêm chất độc cũng chẳng khó khăn, nhưng chỉ bắt được những loại tầm thường, còn những loại đặc biệt, hiếm quý quái lạ, kịch độc lợi hại như trước thì chỉ còn nước cầu may.
Một chuyện khác cũng khiến ông ta lo lắng là nếu như võ lâm Trung Nguyên biết được lai lịch chiếc đỉnh thì ai cũng có thể lập tức hủy ngay, thành thử một ngày chưa lấy lại được thì thêm một ngày không an tâm.
Ông ta gặp lại bọn đệ tử, đại đệ tử Trích Tinh Tử tuy không chết nhưng võ công mất hết bị bọn đệ tử kia trên đường lăng nhục chửi bới không còn ra người nữa, còn nhị đệ tử là gã mũi lân Ma Vân Tử tạm thời lên thay đại sư huynh.
Bọn đệ tử thấy đích thân sư phụ ra tay, ai nấy vừa kinh hoàng vừa sợ hãi, biết rằng sư mệnh không hoàn thành, tội vạ kỳ này chắc là phải ghê gớm khó mà chịu nổi. Cũng may Tinh Tú Lão Quái đang cần người nên tạm thời gác việc trách phạt sang một bên để mọi người có cơ lập công chuộc tội.
Đoàn người vừa đi vừa thăm dò tin tức của Cái Bang nhưng một là bọn họ hình tướng kỳ dị, ngôn ngữ khiến cho người ta ghét bỏ nên chẳng ai tiết lộ cho họ chuyện gì, thứ nữa Tiêu Phong đã sang nước Liêu làm Nam Viện Đại Vương, trong
võ lâm chẳng mấy ai hay, thành thử dò hỏi mãi mà không ra đến cả tổng đà Cái Bang dọn đi đâu cũng không biết.
Một hôm Thiên Lang Tử vô tình nghe được phân đà Đại Trí tụ hội, muốn tâng công liền một thân một mình xông vào nên bị Toàn Quan Thanh ám toán. Thế nhưng người y vốn đầy chất độc nên nọc bò cạp không giết nổi, thoát chết rồi liền cấp báo sư phụ. Đinh Xuân Thu lập tức đi tới.
Đinh Xuân Thu tay trái vung lên, âm thanh lập tức ngừng lại, quay sang Toàn Quan Thanh lạnh lùng nói:
– Trong Cái Bang chúng bay có một gã tên Kiều Phong, bây giờ ở đâu? Mau gọi y ra gặp ta.
Toàn Quan Thanh hỏi:
– Các hạ muốn gặp Kiều Phong là để làm gì? Đinh Xuân Thu ngạo mạn hỏi lại:
– Tinh Tú lão tiên hỏi ngươi, sao ngươi không trả lời, lại còn hỏi tới hỏi lui? Kiều Phong đâu?
Một gã đệ tử năm túi Cái Bang quát:
– Ngươi là ai?
Vù một chưởng, đánh tới Đinh Xuân Thu. Chưởng đó hơi gió vù vù, kình đạo thật là cương mãnh, trúng ngay ngực Đinh Xuân Thu. Ngờ đâu Đinh Xuân Thu dường như không sao cả, còn gã Cái Bang kia hai gối nhũn đi, phục ngay xuống đất, co rúm lại, giãy giụa mấy cái rồi không còn động đậy gì nữa. Quần cái kinh hãi, cùng kêu lên:
– Sao thế này?
Lập tức có hai tên ăn mày đến đỡ y dậy, hai gã đó vừa chạm vào người tên kia, cũng lại lảo đảo mấy cái rồi ngã xuống. Người Cái Bang còn lại ai nấy kinh hãi đến thất thần, không còn ai dám xông lên tiếp cứu đồng bọn.
Toàn Quan Thanh quát lên:
– Lão già đó trên người có chất độc, mọi người chớ có chạm vào y. Ném ám khí! Tám chín tên đệ tử bốn, năm túi liền móc ám khí ra, cương tiêu, phi đao, tụ tiễn, phi hoàng thạch cùng vèo vèo ném vào Đinh Xuân Thu.
Đinh Xuân Thu quát lên một tiếng, ống tay áo huy động, hơn chục món ám khí bay tới bị bật ngược lại. Chỉ nghe ối ối liên tiếp, sáu bảy tên đệ tử Cái Bang bị bắn trúng. Những ám khí đó không phải cái nào cũng trúng chỗ yếu hại, có món chỉ trầy xước ngoài da nhưng mấy tên Cái Bang lập tức ngã lăn ra chết.
Toàn Quan Thanh kêu lớn:
Đột nhiên vụt một cái, một mũi cương tiêu phóng thẳng ra, chính là do Đinh Xuân Thu dùng tóc giữ lại bây giờ vận kình ném vào người y. Toàn Quan Thanh vội vàng dùng thiết địch trong tay gạt ra, nghe keng một tiếng, hất bắn mũi cương tiêu ra thật xa. Y thấy Tinh Tú Lão Quái quả nhiên lợi hại, chi bằng thúc giục độc xà trận ngăn địch, bèn đưa ống tiêu lên môi toan thổi, bỗng thấy môi tê đi, đầu choáng váng, mắt hoa lên, bịch một tiếng ngã lăn ra.
Người của Cái Bang kinh hãi lập tức có hai người đến đỡ y, Toàn Quan Thanh mơ mơ hồ hồ kêu lên:
– Ta… ta trúng độc rồi, các… các ngươi… mau chạy… chạy đi.
Quần cái ai nấy mất hồn mất vía, vội dìu y chạy bay chạy biến, để lại túi vải vung vãi khắp nơi. Vài tên đệ tử phái Tinh Tú tò mò mở túi vải ra, thấy có hơn mười con rắn độc bò ra, vài tên đệ tử tiến lên bắt lấy, có tên bị con rắt độc lớn nhảy lên cắn trúng, nhất thời trúng độc ngã xuống đất, lớn tiếng kêu la.
Những tên còn lại liền tránh ra xa, không dám đến gần.
Du Thản Chi hết sức kinh hãi, từ trong bụi cỏ đứng lên, thấy nơi này không phải là chỗ tốt lành gì nên định chạy cho mau.
Người trong phái Tinh Tú đột nhiên thấy một quái nhân đầu đội lồng sắt, ai nấy thất kinh nhưng nhưng cảm thấy người này cổ quái, ai cũng không dám để ý tới. Đinh Xuân Thu vẫy tay nói:
– Thằng đầu sắt kia, lại đây, tên ngươi là gì?
Du Thản Chi bị người ta khinh khi đã quen, thấy đối phương vô lễ, cũng chẳng để bụng nói:
– Tôi tên Du Thản Chi.
Nói xong đi tới mấy bước. Đinh Xuân Thu hỏi:
– Mấy tên ăn mày kia đã chết chưa? Ngươi thử lại sờ mũi y xem có còn thở không nào?
Du Thản Chi đáp:
Y cúi xuống sờ mũi một tên đệ tử Cái Bang, thấy gã đó chết từ lâu rồi. Y lại thăm một gã khác thì cũng đã tắt thở bèn nói:
– Chết cả rồi, không còn thở tí nào cả.
Chỉ thấy bọn đệ tử phái Tinh Tú mặt mày hớn hở đứa nào đứa nấy ra chiều hạnh tai lạc họa. Y không hiểu vì sao, lại nhắc lại lần nữa:
– Chết cả rồi, không còn thở tí nào cả.
Những gã kia khuôn mặt đang nhăn nhở ra chiều diễu cợt bỗng nhiên biến mất, từ từ chuyển sang lạ lùng, rồi trở thành kinh hãi. Đinh Xuân Thu nói:
– Mỗi tên ăn mày ngươi thử dò xem có đứa nào còn cứu được không? Du Thản Chi đáp:
Y bèn thăm dò hết lượt hơn chục tên ăn mày rồi lắc đầu:
– Người nào cũng chết cả rồi. Công lực của lão tiên sinh ghê gớm thật. Đinh Xuân Thu cười khẩy:
– Công phu kháng độc của ngươi còn ghê gớm hơn nhiều. Du Thản Chi lạ lùng hỏi:
– Tôi…cái gì… công phu kháng độc của tôi ư?
Y hoang mang không hiểu ý tứ câu nói của Đinh Xuân Thu ra sao, cũng chẳng biết rằng mỗi lần mình thò tay xem hơi thở của người trong Cái Bang là một lần đến quỷ môn quan, sờ thử hơn mười người, là trải qua hơn mười lần chết đi sống lại. Tinh Tú Lão Quái nháy mắt là giết được người, lấy mạng của người ta như cỏ rác, y bảo Du Thản Chi đi xem hơi thở của quần cái Cái Bang cũng bởi vì thấy hắn diện mạo cổ quái, liền thuận tay khử đi.
Ngờ đâu trong mấy tháng qua Du Thản Chi tập luyện liên tục nên độc chất của con băng tằm đã dung hợp trong cơ thể, những gì Đinh Xuân Thu thổi vào xác những tên đệ tử Cái Bang kia không làm gì y nổi.
Đinh Xuân Thu nghĩ thầm: “Cứ nhìn da tay và nghe giọng nói của gã này thì xem ra còn trẻ lắm, chắc không có bản lãnh gì chân thực đâu, có lẽ trên người y có chất gì kỵ độc như hùng hoàng châu, tịch tà kỳ hương chẳng hạn, hay đã uống sẵn thuốc giải nên không bị chất độc xâm nhập”. Y liền nói:
– Du huynh đệ, ngươi lại đây, ta có chuyện muốn nói.
Du Thản Chi thấy y nói ra vẻ thành khẩn nhưng đã từng chứng kiến thủ đoạn giết bọn Cái Bang thật là tàn độc, biết hạng người này thật khó mà đối phó, chi bằng kính nhi viễn chi là hơn bèn đáp:
– Tiểu nhân đang có chuyện cần, không thể phụng bồi, xin cáo từ.
Nói xong quay mình đi thẳng. Y mới đi được mấy bước, đột nhiên thấy bên cạnh người có hơi một chút gió, hai cổ tay ghịt lại thì ra đã bị nắm chặt. Du Thản Chi quay đầu nhìn, thấy người nắm tay mình chính là một đệ tử phái Tinh Tú. Y không hiểu đối phương có dụng ý gì nhưng thấy mặt y nở một nụ cười nham hiểm, xem ra không có hảo ý, trong lòng kinh hãi kêu lên:
– Bỏ ta ra!
Y giằng mạnh một cái, bỗng thấy có vật gì bay vụt ngang đầu, một thân hình to lớn từ sau lưng nhảy qua người y, bình một tiếng, giáng mạnh vào vách đá trước mặt, đầu vỡ tan, nát ngướu thành một cục bầy nhầy.
Du Thản Chi thấy gã đó đụng mạnh như thế, không sao tin nổi, còn đang ngạc nhiên, nhìn kỹ lại hóa ra chính là gã vừa nắm tay mình, càng thêm kỳ quái: “Gã
này đang khỏe mạnh như thường, sao tự nhiên lại lao đầu vào đá tự tử? Không lẽ hóa điên chăng?”. Y có ngờ đâu chính là vì mình giãy một cái, một luồng kình lực đưa ra ném gã kia vào trong núi. Quần đệ tử phái Tinh Tú ai nấy sợ hãi kêu lên, mặt mày biến sắc.
Đinh Xuân Thu thấy y ra tay quật chết đệ tử mình, thủ pháp thật là vụng về quờ quạng, không phải công phu thượng thừa, chỉ vì sức lực mạnh lạ lùng mà ra, nghĩ thầm người này trời cho thần lực, võ công lại tầm thường, lập tức nhún mình một cái, giơ tay chộp vào đầu y. Du Thản Chi không kịp đề phòng lập tức bị đè đến quỳ xuống đất, bèn chõi lên định đứng dậy, nhưng đầu tưởng như đang đội một khối đá vạn cân, không cách nào động đậy gì được vội vàng van xin:
– Xin lão tiên sinh tha cho.
Đinh Xuân Thu thấy y mở miệng xin tha nên cũng yên tâm hỏi lại:
– Sư phụ ngươi là ai? Sao ngươi dám to gan, giết đệ tử của ta? Du Thản Chi đáp:
– Tôi… tôi không có sư phụ. Tiểu nhân chẳng bao giờ dám giết đệ tử của lão tiên sinh.
Đinh Xuân Thu nghĩ bụng chẳng cần nhiều lời với y làm gì, giết người diệt khẩu cho được việc, nên buông tay ra đợi Du Thản Chi vừa đứng lên liền múa chưởng đánh vào ngực y. Du Thản Chi kinh hãi vội vàng đưa tay gạt ra. Thế đánh của Đinh Xuân Thu thật chậm, Du Thản Chi vừa đưa tay ra đụng ngay phải chưởng tâm của lão. Đinh Xuân Thu vốn đã tính trước, chất độc trong người theo nội kình lòng bàn tay tống ra, chính là công phu Hóa Công Đại Pháp thành danh mấy chục năm qua, trong chưởng hoặc chứa kịch độc, hoặc kinh mạch bị hao tổn, nội lực không thể sử ra, cũng giống như nội lực trong người bị hóa tán đi, như vậy có thể dễ dàng chi phối. Trong đời Đinh Xuân Thu đã từng dùng pháp môn này giết không biết bao nhiêu người, võ lâm nghe đến Hóa Công Đại Pháp ai ai cũng căm hận chán ghét, sợ đến bủn rủn cả tay chân.
Hai người song chưởng chạm nhau, thân hình Du Thản Chi lảo đảo, lịch bịch lùi luôn sáu bảy bước, định gượng dậy nhưng cũng phải ngồi phệt xuống, vậy mà dư lực vẫn còn đẩy y ngã ngửa, đầu va xuống đất, lộn tùng phèo ba bốn vòng mới ngừng lại được. Y vội vàng liên tiếp khấu đầu van xin:
– Lão tiên sinh tha mạng! Lão tiên sinh tha mạng!
Đinh Xuân Thu hai tay đụng với y thấy Du Thản Chi nội lực hùng mạnh, kình đạo âm hàn, thật là quái dị, lại có ngầm chứa chất cực độc, tuy bị mình đẩy ngã lăn chòng chọc thật là thê thảm, nhưng độc chưởng của mình lại không tổn hại đến kinh mạch hắn, chỉ ngăn được nội lực hắn sử ra, nếu so sánh nội lực và độc kình thì không kém gì mình, vậy mà lại van xin cầu tha mạng? Không lẽ y thực sự không biết? Lão liền tiến lên hỏi lại:
– Ngươi cầu xin ta tha mạng, đó là thực lòng hay là giả ý? Du Thản Chi vẫn một mực rập đầu van lạy:
– Tiểu nhân một lòng thành thực, cầu xin lão tiên sinh tha mạng cho tiểu nhân. Đinh Xuân Thu nghĩ thầm: “Gã này không biết dùng cách gì, gặp được cơ duyên làm sao mà chất độc tích trong người còn hơn cả ta, quả là một kỳ bảo. Ta phải tìm cách tóm lấy gã dò xem pháp môn luyện công ra sao sau đó hút hết chất độc trong người y, lúc đó mới xử tử. Còn nếu chỉ giết y đi thì thật uổng quá!”. Ông ta giơ chưởng ấn xuống đầu Du Thản Chi, hơi vận nội lực nói:
– Trừ phi ngươi bái ta làm thầy, nếu không ta làm sao tha mạng cho ngươi được? Du Thản Chi thấy chiếc lồng sắt trên đầu như bị đút vào lò lửa, nóng đến mặt hừng hực, trong bụng hết sức sợ hãi. Y từ khi bị A Tử hành hạ dày vò trở nên bảo sao nghe vậy, chẳng còn phân biệt thiện ác thị phi, bao nhiêu cốt khí cứng cỏi ương ngạnh mất sạch, chỉ sao được bảo toàn tính mạng nên lật đật nói:
– Sư phụ, đệ tử Du Thản Chi cam nguyện gia nhập môn hạ của sư phụ, xin sư phụ thu nạp.
Đinh Xuân Thu mừng lắm, thản nhiên nói:
– Ngươi muốn bái ta làm thầy thì cũng được. Thế nhưng quy củ bản môn thật nhiều, ngươi có tuân thủ được không? Ví thử sư phụ bảo làm gì, ngươi có thành tâm thành ý làm hết lòng, quyết không vi kháng chăng?
Du Thản Chi đáp:
– Đệ tử nguyện tuân thủ quy củ, phục tòng mệnh lệnh của sư tôn. Đinh Xuân Thu hỏi thêm:
– Nếu sư phụ muốn lấy mạng ngươi, ngươi có cam tâm tình nguyện chịu chết không? Du Thản Chi ấp úng:
– Cái đó… cái đó… Đinh Xuân Thu nói:
– Ngươi nghĩ cho chín, cam tâm thì là cam tâm, không bằng lòng thì nói không bằng lòng.
Du Thản Chi nghĩ thầm: Nếu ông muốn lấy mạng tôi thì dĩ nhiên không cam tâm rồi. Nếu tới lúc đó trốn được là mình trốn ngay, còn như chạy không xong thì dù không cam tâm cũng đành vậy chứ biết sao hơn. Y bèn nói:
– Đệ tử cam tâm chịu chết vì sư phụ. Đinh Xuân Thu cười ha hả nói:
– Hay lắm, hay lắm! Ngươi đem tất cả mọi chuyện trong đời nói hết cho ta nghe. Du Thản Chi không muốn nói rõ hết cho ông ta nghe thân thế và những gặp gỡ trong đời, chỉ nói mình là con nhà nông bị người Liêu bắt trong một kỳ đi gặt, đội cho y một cái lồng sắt. Đinh Xuân Thu hỏi y độc chất vì đâu mà có, Du Thản Chi chỉ thổ lộ vì sao thấy con băng tằm và nhà sư Tuệ Tịnh, ăn cắp con tằm ra sao rồi nói láo là sơ ý nên bị con băng tằm trong hồ lô cắn vào tay khiến cho toàn thân đông cứng, còn con tằm thì chết, còn chuyện A Tử tu luyện độc chưởng y bỏ qua không đề cập tới.
Đinh Xuân Thu hỏi kỹ lưỡng hình dáng và tình trạng con băng tằm, trên mặt không khỏi lộ vẻ thèm thuồng thán phục. Du Thản Chi nghĩ thầm: “Nếu ta nói đến cuốn sách ướt có đồ hình kì quái, hắn chắc chắn không ngớt truy hỏi, cũng may cuốn sách đó đã sớm bị ta hủy rồi”. Đinh Xuân Thu lại gặng hỏi công phu cổ quái y luyện thế nào nhưng y nhất quyết không hé răng.
Đinh Xuân Thu vốn dĩ đâu có biết đó là công phu Thần Túc Kinh Du Già thấy võ công y hết sức kém cỏi lại tưởng vì y luyện được nội kình âm hàn hoàn toàn chỉ do con băng tằm mà có, trong bụng không khỏi chửi thầm: “Loại thần vật như thế mà lại bị tên tiểu tử này thần xui quỷ khiến làm sao hút được vào người, thật uổng quá”. Y suy nghĩ một chút bèn hỏi thêm:
– Thế nhà sư mập bắt được con tằm đó, ngươi bảo là nghe người khác gọi là Tuệ Tịnh ư? Là sư chùa Thiếu Lâm, chấp tác nơi chùa Mẫn Trung ở Nam Kinh?
Du Thản Chi đáp:
– Quả đúng thế.
Đinh Xuân Thu nói:
– Gã Tuệ Tịnh đó bảo là bắt được con băng tằm ở trên đỉnh núi Côn Lôn. Thế thì tốt lắm, ở đó đã có một con thì hẳn sẽ có hai con, ba con. Nhưng núi Côn Lôn vuông vức mấy nghìn dặm, nếu không phải người thuộc đường đưa đi thì không phải dễ gì mà bắt được.
Lão đã đích thân nếm mùi linh nghiệm của con băng tằm, tính ra so với Thần Mộc Vương Đỉnh còn quý hơn nhiều, thấy chuyện cần kíp trước mắt phải làm sao ép được nhà sư Tuệ Tịnh dẫn đường đi lên núi Côn Lôn bắt con trùng quý. Hòa thượng đó thuộc phái Thiếu Lâm, vốn cũng khó mà động tới được, nay lại ở Nam Kinh thế thì may quá. Sau đó Du Thản Chi làm lễ bái sư gia nhập phái Tinh Tú.
Bọn đệ tử phái Tinh Tú thấy sư phụ có chiều thương mến y cho nên lập tức xúm lại ninh bợ, tán tụng không tiếc lời. Đoàn người liền chuyển qua đi về hướng đông bắc. Du Thản Chi đi sau Đinh Xuân Thu thấy lão tay áo rộng phất phới, bộ pháp nhẹ nhàng thật chẳng khác gì thần tiên, trong lòng tự nhiên sinh kính ngưỡng: “Ta bái một vị tài ba thế này làm sư phụ, quả đúng là kiếp trước khéo tu”.
Người phái Tinh Tú đi ba ngày liền, đến xế trưa hôm đó, cả bọn ở lại một tòa lương đình ở bên đường uống nước nghỉ ngơi, bỗng nghe phía sau có tiếng vó ngựa, bốn kỵ sĩ từ phía đường bên kia chạy tới. Bốn con ngựa đó chạy tới gần căn nhà mát, người đầu tiên kêu lên:
– Đại ca, nhị ca, trong đây có nước, mình ghé lại uống vài bát cho ngựa nghỉ một chút.
Y vừa nói vừa nhảy xuống ngựa, đi vào lương đình, ba người còn lại cũng hạ mã. Bốn người đó thấy bọn Đinh Xuân Thu, trong lòng hơi rùng mình, đi đến bên chum nước, cầm bát lên múc nước uống. Du Thản Chi thấy người đi đầu mặc áo đen, bé nhỏ gầy gò, trên mép để hai chòm râu đuôi chuột vẻ mặt ranh mãnh. Người thứ hai mặc áo bào màu hoàng thổ, cao lỏng khỏng, hai lông mày xuôi xuống, vẻ mặt cáu kỉnh trông như người ốm dở.
Người thứ ba mặc trường bào màu đỏ cánh kiến, thân hình cao lớn, tai to mặt vuông, dưới cằm là một bộ râu hoa râm khá rậm trông chẳng khác gì một phú thương. Người sau cùng mặc áo xanh khăn áo theo vẻ nho sinh, chừng trên dưới năm mươi, đôi mắt lờ đờ dường như vì đọc sách nhiều quá nên cập kèm, không uống nước mà cầm chiếc hồ lô lên tu rượu ừng ực.
Cũng vừa khi đó, từ phía đường trước mặt, một nhà sư xăng xái đi tới, đến trước lương đình, chắp hai tay cung kính nói:
– Chúng vị thí chủ, tiểu tăng đi đường khát nước, xin được vào trong đình nghỉ ngơi, uống bát nước.
Người áo đen cười đáp:
– Sư phụ chẳng phải đa lễ, ở đây ai cũng là người qua đường, tòa nhà mát này có phải chúng tôi dựng lên đâu, xin mời vào nghỉ.
Nhà sư đáp:
– A Di Đà Phật, xin đa tạ.
Nói xong ông ta đi vào trong lương đình. Nhà sư đó tuổi chừng hai mươi ba, hai mươi tư, mắt to mày rậm, mũi to nhưng tẹt, mặt mày không lấy gì làm đẹp trai, tăng bào tuy vá nhiều chỗ nhưng sạch sẽ. Y đợi ba người kia uống xong lúc đó mới đến gần chum nước, dùng bát múc, hai tay nâng lên, đôi mắt khép lại, cung kính đọc một bài kệ:
“Phật quan nhất bát thủy Bát vạn tứ thiên trùng Nhược bất trì thử chú
Như thực chúng sinh nhục”. Ở trong lòng bát nước kia,
Phật trông thấy tám muôn tư côn trùng. Chú này chưa tụng cho xong,
Khác gì ăn thịt một vùng chúng sinh. Rồi y niệm:
– Am phọc thái ba la ma ni sa ha.
Niệm xong y mới bưng bát nước lên để vào miệng uống. Gã áo đen lấy làm lạ bèn hỏi:
– Tiểu sư phụ, chú xí xa xí xố niệm chú gì đó? Nhà sư đáp:
– Tiểu tăng niệm đó là ẩm thủy chú. Phật dạy rằng trong mỗi bát nước đều có tám vạn bốn ngàn loại côn trùng, người xuất gia giới sát thành ra phải niệm ẩm thủy chú xong lúc đó mới uống được.
Người áo đen cười sằng sặc nói:
– Nước trong veo, đến một con trùng cũng không có, tiểu sư phụ chỉ giỏi nói đùa.
Nhà sư nghiêm trang đáp:
– Thí chủ có chỗ không biết. Chúng ta là bọn phàm phu nhìn vào thì trong nước không có côn trùng nhưng đức Phật nhìn bằng thiên nhãn, thấy trong nước tiểu trùng hàng nghìn hàng vạn con.
Người áo đen cười hỏi lại:
– Thế ngươi niệm ẩm thủy chú rồi uống tám vạn bốn nghìn con trùng kia vào bụng thì tiểu trùng không chết hay sao?
Nhà sư trù trừ rồi đáp:
– Cái… cái đó… sư phụ tiểu tăng chưa dạy. Có lẽ tiểu trùng không chết đâu. Người áo vàng chen vào:
– Sai bét, sai bét! Tiểu trùng cũng vẫn chết chứ. Có điều tiểu sư phụ niệm chú rồi, tám vạn bốn nghìn con trùng kia đi thẳng lên tây phương cực lạc thế giới, tiểu sư phụ uống một bát nước ấy là siêu độ cho tám vạn bốn nghìn chúng sinh. Công đức thật là vô lượng! Quả thật là vô lượng!
Nhà sư kia không biết y nói thật hay nói đùa, hai tay vẫn cầm bát nước đứng ngơ ngơ ngẩn ngẩn, mồm lẩm bẩm:
– Một lần siêu độ tám vạn bốn ngàn chúng sinh ư? Tiểu tăng làm sao có pháp lực to lớn dường ấy?
Người áo vàng đi đến bên cạnh nhà sư, cầm lấy bát nước trong tay y, nhìn chăm chăm miệng đếm:
– Một, hai, ba, bốn, năm, sáu… một nghìn, hai nghìn, một vạn, hai vạn… Sai bét, sai bét! Tiểu sư phụ ơi ơi, trong cái bát này có cả thảy tám vạn ba nghìn chín trăm chín mươi chín con tiểu trùng, thiếu đâu mất một con.
Nhà sư nói:
– Nam Mô A Di Đà Phật, thí chủ chắc nói đùa, thí chủ là người phàm làm sao có thần thông thiên nhãn được?
Người áo vàng đáp:
– Thế ngươi có thần thông thiên nhãn không? Nhà sư đáp:
– Tiểu tăng dĩ nhiên cũng không có. Người áo vàng nói:
– Sai bét, sai bét! Ta xem ngươi có thiên nhãn thông, nếu không làm sao chú chỉ mới nhìn thoáng qua đã biết ngay ta là kẻ phàm phu tục tử mà không phải là bồ tát giáng trần?
Nhà sư nhìn y, nhìn tới nhìn lui đầy vẻ hoang mang. Đại hán mặc áo màu cánh kiến liền đi tới cầm lấy bát nước, trả lại cho nhà sư cười nói:
– Sư phụ uống nước đi! Sư đệ tôi đùa chơi với chú đấy mà, đừng có coi là thật. Nhà sư tiếp lấy bát nước cực kỳ cung kính đáp:
– Đa tạ! Đa tạ!
Trong bụng không biết phải làm sao nên không dám uống. Đại hán kia lại tiếp:
– Ta xem tiểu sư phụ đi đứng nhanh nhẹn chắc biết võ công. Xin hỏi pháp danh là gì, đang xuất gia tại chùa nào?
Nhà sư liền để bát nước trên nắp chum, hơi khom lưng nói:
– Tiểu tăng là Hư Trúc, xuất gia tại chùa Thiếu Lâm. Người áo đen kêu lên:
– Hay quá! Hay quá! Hóa ra ngươi là cao thủ chùa Thiếu Lâm. Ra đây, ra đây mau! Hai đứa mình làm thử một keo nào.
Hư Trúc cuống quýt xua tay nói:
– Tiểu tăng võ công kém cỏi, làm sao dám động thủ cùng thí chủ? Người áo đen cười:
– Mấy hôm nay không đánh nhau, ngứa tay ngứa chân quá. Chúng mình làm vài chiêu, không cần đánh thật, có gì đâu mà sợ?
Hư Trúc lùi lại hai bước nói:
– Tiểu tăng tuy có luyện võ mấy năm thật nhưng chỉ cốt để cho thân thể khỏe mạnh chứ nào có đánh nhau được đâu?
Người áo đen nói:
– Sư chùa Thiếu Lâm ai cũng võ công cao cường, người mới học đâu có ai được ra khỏi sơn môn. Tiểu sư phụ đã được hạ sơn hẳn là phải nhất lưu cao thủ. Lại đây
nào! Hai đứa mình chỉ trao đổi một trăm chiêu, ai thua ai được cũng chẳng sao cả.
Hư Trúc lại thoái lui thêm hai bước nữa nói:
– Thí chủ không biết, phen này tiểu tăng xuống núi chẳng phải vì võ công đã đủ, chỉ vì nhà chùa sai rất đông đệ tử đi đưa thư, thiếu người nên miễn cưỡng khiến luôn cả tiểu tăng cho đủ số. Tiểu tăng cầm cả thảy mười trương anh hùng thiếp, sư phụ dặn kỹ là đưa đủ mười cái thiếp xong là phải về chùa ngay, giá nào cũng không được động võ với ai, hiện nay đã đưa được bốn lá thiếp rồi, trong người còn sáu cái. Thí chủ võ công cao cường, vậy xin nhận một trương anh hùng thiếp. Nói xong lấy trong túi ra một chiếc bao bằng vải dầu, mở lấy ra một phong bì đỏ chói, cung kính đưa lên nói:
– Xin hỏi cao tính đại danh của thí chủ để tiểu tăng khi về chùa bẩm lại với sư phụ.
Hán tử áo đen không cầm tờ thiếp chỉ nói:
– Nếu như ngươi không đánh nhau với ta thì ta còn anh hùng cẩu hùng gì nữa? Hai đứa mình sách giải vài chiêu, ta có thắng ngươi lúc đó mới dám nhận anh hùng thiếp.
Nói xong y tiến lên hai bước, nhứ tay trái, tay phải đấm luôn vào mặt Hư Trúc nhưng quyền sắp đến đã thu lại kêu lên:
– Trả đòn mau.
Người cao to từ khi thấy Hư Trúc nói đến ba chữ anh hùng thiếp thì đã chú ý lắng tai nghe lúc này lên tiếng:
– Tứ đệ, không nên tỉ võ vội, trước hết xem anh hùng thiếp xem nói những gì. Y cầm lấy lá thiếp từ tay Hư Trúc thấy trên đó viết: “Trụ trì chùa Thiếu Lâm
Huyền Từ, chắp tay cung thỉnh anh hùng thiên hạ, vào lễ Lạp Bát mồng tám tháng chạp, xin vui lòng đến Tung Sơn Thiếu Lâm Tự để kết mối thiện duyên, đồng thời chứng kiến phong phạm “Gậy ông đập lưng ông” của nhà Mộ Dung Cô Tô”.
Đại hán đó liền kêu lên một tiếng, cầm tờ thiếp giao cho nho sinh đứng bên cạnh, nói với Hư Trúc:
– Phái Thiếu Lâm chiêu khai anh hùng đại hội, hóa ra là để gây chuyện với Mộ Dung Cô Tô…
Hán tử áo đen liền la to:
– Hay lắm! Hay lắm! Ta tên là Nhất Trận Phong Phong Ba Ác, chính là thủ hạ của họ Mộ Dung Cô Tô đây. Phái Thiếu Lâm muốn làm khó Mộ Dung Cô Tô thì chẳng việc gì phải mở anh hùng đại hội, ngay bây giờ ta xin lãnh giáo thân thủ cao chiêu của phái Thiếu Lâm.
Hư Trúc lại lùi thêm hai bước, chân trái đã bước ra khỏi lương đình nói:
– Thì ra là Phong thí chủ. Sư phụ tiểu tăng có dặn là, tệ tự cung thỉnh Cô Tô Mộ Dung thí chủ đến chùa, quyết không dám đắc tội. Có điều là trên giang hồ ai ai cũng xầm xì, trong võ lâm những năm gần đây không ít anh hùng hảo hán bỏ mình vì thần công “gậy ông đập lưng ông” của nhà Mộ Dung Cô Tô. Sư bá tổ của tiểu tăng là Huyền Bi đại sư viên tịch tại chùa Thân Giới nước Đại Lý, không biết có liên can gì với họ Mộ Dung không, tệ phái từ phương trượng đại sư giở xuống, ai ai cũng nghi hoặc, nhưng không dám tùy tiện trách tội nhà Mộ Dung Cô Tô, thành ra mới…
Người áo đen liền ngắt lời:
– Chuyện đó vốn dĩ chẳng liên quan gì đến nhà Cô Tô Mộ Dung chúng ta cả, thế nhưng chúng ta nói các ngươi nào có ai chịu tin đâu, nếu như nói chuyện không xong thì chỉ còn nước quyền cước phân hơn thiệt. Ví như thế, hai người mình hôm nay đánh nhau một trận, cũng như trước khi diễn trò thì đánh phèng la chiêng trống, sắp vào vở tuồng thì nói lối mấy câu giáo đầu, có thế mới vui. Còn đến lễ Lạp Bát mồng tám tháng chạp, Phong mỗ sẽ đến chùa Thiếu Lâm, từ dưới đánh lên, không sót một mống, thế mới thống khoái. Có điều chỉ đánh được chừng mười bảy mười tám mạng là Phong mỗ khắp người thương tích, không còn đánh tiếp được
nữa, muốn giao thủ với Huyền Từ lão phương trượng, chắc là không thể nào có cơ duyên. Tiếc quá! Tiếc quá!
Y vừa nói vừa xắn tay áo dường như muốn xông lên động thủ. Hán tử to cao nói:
– Tứ đệ, hãy khoan đã, nói năng cho minh bạch rồi đánh cũng chưa muộn. Người áo vàng chặn lại:
– Sai bét, sai bét! Nói cho minh bạch xong thì đâu cần đánh nữa. Tứ đệ, cơ hội tốt chớ để mất, nếu muốn đánh nhau thì chớ có nói cho minh bạch.
Người đàn ông to cao kia không nhìn nhõi gì đến y quay sang nói với Hư Trúc:
– Tại hạ là Đặng Bách Xuyên còn người này là nhị đệ Công Dã Càn. Y vừa nói vừa chỉ vào người nho sinh, rồi chỉ vào người áo vàng:
– Còn đây là tam đệ Bao Bất Đồng, chúng tôi đều là thủ hạ của Mộ Dung công tử. Hư Trúc liền chắp tay chào bốn người miệng nói:
– Đặng thí chủ, Công thí chủ… Bao Bất Đồng chen vào:
– Sai bét, sai bét! Nhị ca ta họ kép là Công Dã, ngươi lại gọi Công thí chủ, thật sai hết chỗ nói.
Hư Trúc vội nói:
– Xin lỗi! Xin lỗi! Tiểu tăng chẳng có học vấn, xin Công Dã thí chủ đừng trách. Bao thí chủ…
Bao Bất Đồng lại chặn ngang:
– Nhà ngươi lại cũng sai nữa rồi. Ta tuy họ Bao thật nhưng xưa nay đã từng bố thí cho sư cho vãi bao giờ đâu, không thể nào gọi ta là Bao thí chủ được.
Hư Trúc lật đật nói:
– Dạ! Dạ! Bao tam gia, Phong tứ gia. Bao Bất Đồng liền đáp:
– Ngươi lại sai rồi! Phong tứ đệ của ta muốn cùng người giao đấu, không kể ai ăn ai thua thì ngươi cũng một phen thêm lịch duyệt, võ công ắt là trường tiến, thế chẳng phải đã bố thí cho ngươi hay sao?
Hư Trúc vội đáp:
– Vâng! Vâng! Phong thí chủ, có điều là tiểu tăng nhất quyết không đánh nhau. Người xuất gia tu hành là gốc, học võ chỉ là ngọn, võ công trường tiến hay không, cũng không quan hệ gì lắm.
Phong Ba Ác thở dài:
– Ngươi coi võ học xem thường như thế, võ công chắc cũng tầm thường, thôi trận này chẳng cần đấu nữa.
Nói xong lắc đầu quầy quậy ra chiều thất vọng. Hư Trúc chẳng khác gì trút được gánh nặng trên vai, mặt mày tươi rói nói:
– Phải lắm! Phải lắm! Đặng Bách Xuyên nói:
– Hư Trúc sư phụ, cánh thiếp anh hùng này, chúng tôi đại diện công tử nhận. Công tử chúng tôi hơn một năm trước đã từng đến bái phỏng quý tự, không lẽ chưa tới nơi hay sao?
Hư Trúc đáp:
– Chưa thấy đến. Phương trượng đại sư vẫn mong Mộ Dung công tử đến thăm nhưng đợi lâu quá mà không thấy, đã từng hai lần phái người đến quý phủ bái phỏng, nghe tin Mộ Dung lão thí chủ quy tây, thiếu thí chủ ra ngoài. Phương trượng đại sư lần này nhờ thủ tọa Đạt Ma Viện đến tận tôn phủ ở Tô Châu đưa thư, lại sợ Mộ Dung thiếu thí chủ không có nhà nên gửi anh hùng thiếp đến đông đảo đồng đạo giang hồ, những điều thất lễ xin nhờ bốn vị bẩm lại Mộ Dung công tử cho minh bạch. Sang năm Mộ Dung thí chủ giá lâm tệ tự, phương trượng đại sư sẽ đích thân tạ tội sau.
Đặng Bách Xuyên nói:
– Tiểu sư phụ không phải khách sáo quá. Kỳ hội còn đến hơn nửa năm, tới lúc đó công tử chúng tôi thể nào cũng đến thăm quý tự, bái kiến phương trượng đại sư. Hư Trúc chắp tay khom lưng chào nói:
– Mộ Dung công tử cùng các vị giá lâm Thiếu Lâm Tự, phương trượng đại sư chúng tôi cực kỳ hoan nghênh. Hai chữ bái kiến thật không dám nhận.
Phong Ba Ác thấy y cực kỳ chấp nê, không có chút gì khẳng khái hào sảng của võ lâm, tuy cũng là nhà sư đấy nhưng thật chẳng có vẻ gì là hòa thượng chùa Thiếu Lâm danh tiếng trên đời, trong lòng không lấy gì làm vui lắm, chẳng ngó ngàng gì đến y nữa, quay sang xem xét bọn Đinh Xuân Thu. Y thấy quần đệ tử phái Tinh Tú tay cầm binh khí, hiển nhiên cũng là người trong võ lâm, liền tìm xem có người nào xứng đáng là đối thủ để mời ra đánh nhau một trận.
Du Thản Chi từ khi thấy bốn người này đi vào lương đình, lập tức nấp vào đằng sau sư phụ. Đinh Xuân Thu thân thể cao to, che khuất y nên bọn bốn người Đặng Bách Xuyên không nhìn thấy cái đầu sắt quái dị. Phong Ba Ác thấy Đinh Xuân Thu đồng nhan hạc phát, mi thanh mục tú, tiên phong đạo cốt, trông ra vẻ thế ngoại cao nhân, trong bụng không khỏi có chiều kính ngưỡng, thành thử chưa dám ngang nhiên tiến lên khiêu chiến liền hỏi:
– Vị lão tiền bối kia xin hỏi cao tính đại danh là gì? Đinh Xuân Thu mỉm cười đáp:
– Ta họ Đinh.
Vừa lúc đó Hư Trúc bỗng kêu lên một tiếng nói:
– Sư thúc tổ lão nhân gia cũng đã đến rồi.
Phong Ba Ác quay đầu lại thấy trên đường cái bảy tám hòa thượng đi tới, đi đầu là hai vị lão tăng, còn lại có hai người khiêng một chiếc cáng, trên đó có người nằm. Hư Trúc vội vã đi ra khỏi lương đình, hành lễ với hai nhà sư già rồi bẩm lại lai lịch của bốn người Đặng Bách Xuyên.
Nhà sư phía bên phải gật đầu, đi vào trong đình tiến đến chào bọn Đặng Bách Xuyên rồi nói:
– Lão nạp là Huyền Nạn.
Ông chỉ về nhà sư già kia nói:
– Còn đây là sư đệ của lão nạp Huyền Thống may mắn được gặp bốn vị đại hiền của Cô Tô Mộ Dung Trang.
Bọn Đặng Bách Xuyên từng nghe danh Huyền Nạn từ lâu, thấy ông mặt dăn deo nhưng đôi mắt thần quang thăm thẳm, vội vàng trả lễ. Phong Ba Ác nói:
– Đại sư phụ là thủ tọa Đạt Ma Viện của chùa Thiếu Lâm, nghe nói thần công ghê gớm lắm, hôm nay xin được lãnh giáo.
Huyền Nạn mỉm cười đáp:
– Lão nạp và Huyền Thống sư đệ phụng pháp dụ của phương trượng đến phủ Mộ Dung thí chủ tại Giang Nam cung trình thiếp mời, đây là lần thứ ba chùa chúng tôi sai người đến Yến Tử Ổ. Thế nhưng may sao ngay tại đây được cùng quý vị giải cấu tương phùng, duyên pháp quả là không nhỏ.
Nói xong từ trong túi lấy ra một thiếp mời màu đỏ. Đặng Bách Xuyên hai tay cầm lấy thấy trên bao thư có viết: “Cung trình Mộ Dung thí chủ ở Yến Tử Ổ đất Cô Tô” bằng chữ lớn, liệu chừng bên trong thiếp cũng giống như cái thiếp Hư Trúc vừa đưa cho bèn nói:
– Hai vị đại sư phụ là cao tăng đại đức của chùa Thiếu Lâm, vọng trọng trong võ lâm mà phải thân lao đại giá đến tệ trang, quả thực Mộ Dung Cô Tô được nở mày nở mặt quá. Mới đây vị Hư Trúc tiểu sư phụ cũng đã đưa cho một danh thiếp anh hùng, chúng tôi đã nhận rồi, nhất định thể nào cũng bẩm lại bề trên. Đến lễ Lạp Bát mồng tám tháng chạp, tệ thượng là Mộ Dung công tử thể nào cũng lên chùa lễ Phật, đích thân cảm tạ các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm rồi trước mặt anh hùng thiên hạ, nói rõ các chuyện hiểu lầm.
Huyền Nạn nghĩ thầm: Ngươi bảo các chuyện hiểu lầm, hóa ra Huyền Bi sư huynh không phải do nhà Mộ Dung Cô Tô các ngươi giết chết hay sao?. Bỗng nghe ở sau có tiếng người kêu lên:
– A, sư phụ, chính y đó!
Huyền Nạn nghiêng đầu nhìn qua, thấy một người hình thù kỳ quái chỉ vào chiếc cáng, ghé tai một ông lão tóc bạc thì thầm. Du Thản Chi nói với Đinh Xuân Thu:
– Gã sư mập nằm trên cáng kia chính là người bắt được con băng tằm, không biết vì sao lại bị phái Thiếu Lâm bắt.
Đinh Xuân Thu nghe nói nhà sư đó là nguyên chủ của con băng tằm, vui sướng không đâu cho hết, hỏi nhỏ:
– Ngươi không nhìn lầm người chứ? Du Thản Chi đáp:
– Không đâu, tên y là Tuệ Tịnh. Sư phụ thử xem, cái bụng tròn quay của y phồng lên thế kia.
Đinh Xuân Thu thấy bụng Tuệ Tịnh còn to hơn đàn bà chửa sắp đẻ, nghĩ thầm một hòa thượng mập như thế, dù ai gặp y một lần thì suốt đời không quên, bèn quay sang nói với Huyền Nạn:
– Đại sư phụ, vị hòa thượng Tuệ Tịnh kia có quen với ta, y bị bệnh gì chăng? Huyền Nạn chắp tay đáp:
– Cao tính đại danh thí chủ là chi? Không biết nguyên do nào mà lại biết sư điệt của lão nạp?
Đinh Xuân Thu nghĩ thầm: “Gã Tuệ Tịnh kia lại đi cùng với các hòa thượng Thiếu Lâm, quả thực là phiền. Cũng may gặp ngay trên đường đi, chặn lại cướp lấy thật dễ hơn vào trong chùa Thiếu Lâm mà bắt, mà lại dễ dàng hơn nhiều”. Y nghĩ đến sự linh dị thần hiệu của con băng tằm, ngực không khỏi nóng hôi hổi nói:
– Tại hạ là Đinh Xuân Thu.
Ba tiếng Đinh Xuân Thu vừa ra khỏi cửa miệng, Huyền Nạn, Huyền Thống, Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác sáu người không hẹn mà cùng kêu lên một tiếng, mặt ai nấy đều hơi biến sắc. Ác danh Tinh Tú Lão Quái Đinh Xuân Thu vang dậy thiên hạ, ai ngờ lại gặp nơi đây trông khí độ ung dung, phong thái tiêu sái đến thế. Sáu người ai nấy lập tức đều có ý phòng bị. Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác bốn người từ lâu đã biết Đinh Xuân Thu cùng nhà họ Vương ở Mạn Đà sơn trang có quan hệ với nhau, nhưng chưa bao giờ gặp, hôm nay mới là lần đầu.
Chỉ trong nháy mắt Huyền Nạn đã bình tĩnh lại ngay nói:
– Thì ra là Đinh lão tiên sinh của Tinh Tú Hải. Đã ngưỡng mộ đại danh từ lâu, quả thực như sấm rền bên tai.
Những câu khách sáo như may mắn thay được gặp ông không nhắc đến, nghĩ thầm: Người nào gặp phải ngươi đúng là kiếp trước vụng tu.
Đinh Xuân Thu nói:
– Không dám, môn Tụ Lý Càn Khôn của thủ tọa Đạt Ma Viện chùa Thiếu Lâm nổi danh thiên hạ, lão phu cũng từng ngưỡng mộ lâu rồi. Vị Tuệ Tịnh sư phụ này, ta đang muốn đi tìm đây, bây giờ gặp được nơi đây thật là hay quá, hay thật là hay. Huyền Nạn hơi nhíu mày nói:
– Nói ra quả thật xấu hổ, gã sư điệt Tuệ Tịnh của lão nạp đây, chỉ vì bổn tự thiếu giáo huấn nên phạm nhiều thanh quy giới luật, hơn một năm trước trốn ra khỏi chùa, làm nhiều điều ác. Phương trượng sư huynh của tệ tự sai người đi khắp nơi tìm kiếm, chẳng dễ gì kiếm được y, bắt đem về chùa. Đinh lão tiên sinh đã từng gặp y rồi ư?
Đinh Xuân Thu đáp:
– Thì ra không phải y bị bệnh mà là bị người ta đả thương, thương thế có nặng lắm không?
Huyền Nạn không trả lời, một hồi sau mới nói:
– Y không tuân theo pháp dụ của phương trượng, ngược lại còn ra tay đánh người nữa.
Ông nghĩ thầm: “Y kết giao với những loại tà ma ngoại đạo như ngươi, lại phá thêm một đại giới nữa”. Đinh Xuân Thu nói:
– Tại hạ ở núi Côn Lôn, tốn biết bao nhiêu tâm huyết mới bắt được một con băng tằm, là một loại cực kỳ hữu dụng, ngờ đâu lại bị gã Tuệ Tịnh sư điệt của đại sư ăn cắp mất. Tại hạ vạn lý xa xôi từ biển Tinh Tú tới Trung Nguyên, chẳng qua cũng chỉ để lấy lại con băng tằm…
Y nói chưa dứt lời, Tuệ Tịnh đã kêu lên:
– Con băng tằm ư? Này, có phải ngươi trông thấy con băng tằm? Con tằm đó ta khổ sở mới kiếm thấy được trong núi Côn Lôn… ngươi… ngươi ăn trộm của ta phải không?
Từ khi Du Thản Chi tiến ra thì thầm, Phong Ba Ác chăm chăm nhìn cái lồng trên đầu y, mắt láo liên, những gì Huyền Nạn, Đinh Xuân Thu và nhà sư Tuệ Tịnh đối đáp y hoàn toàn không nghe gì cả. Y đi vòng quanh Du Thản Chi mấy bận, thấy cái mặt nạ đúc thật khít khao, cứ đeo mãi trên đầu không bỏ xuống, toan đưa tay ra ra gõ thử, lại coi thêm một lát mới hỏi:
– Này bồ, khỏe chứ?
Du Thản Chi ấp úng:
– Tôi… tôi khỏe.
Y thấy Phong Ba Ác lúc nào cũng lanh chanh, tay chân không yên, trong bụng cũng khiếp. Phong Ba Ác lại hỏi:
– Cái mặt nạ của bồ làm sao đúc được vậy? Tôi đi khắp nơi nhưng chưa bao giờ thấy cái mặt nạ nào như vầy.
Du Thản Chi cực kỳ ngượng ngập, cúi đầu xuống nói:
– Hèm, tôi… tôi bị người ta ép buộc, không… không làm sao được. Phong Ba Ác nghe y nói thấy thật đáng thương, giận dữ hỏi dồn:
– Sao có người chơi trò gì ác ôn vậy? Họ Phong muốn biết là đứa nào.
Nói xong y liếc mắt nhìn Đinh Xuân Thu, cho rằng đây là công trình của lão già này. Du Thản Chi vội kêu:
– Không… không phải sư phụ tôi đâu. Phong Ba Ác lại nói:
– Ai đời con người ta đang yên lành, nay đem nhốt trong cái mặt nạ bằng sắt là sao? Lại đây, để ta tháo ra cho ngươi.
Y vừa nói vừa rút trong ống giày ra một con dao găm sáng quắc, đủ biết cực kỳ sắc bén toan gỡ cái lồng sắt ra. Du Thản Chi biết rằng chiếc mặt nạ này đã dính liền vào mặt mũi và sau đầu y, nếu cố tháo đi thì có thể chết được vội vàng nói:
– Không, không tháo được đâu. Phong Ba Ác đáp:
– Nhà ngươi chớ có sợ, thanh chủy thủ của ta gọt sắt như bùn, để ta cắt cái mặt nạ, quyết không tổn thương thịt da đâu.
Du Thản Chi kêu lên:
– Không, không được.
Phong Ba Ác nói:
– Ngươi sợ người đội cho ngươi cái mũ sắt này, phải không nào? Kỳ tới gặp lại y cứ nói là ta đây Nhất Trận Phong Phong Ba Ác tháo cho ngươi đó, ngươi bị ta ép buộc nếu muốn gì cứ bảo ác nhân đó đi kiếm ta là xong.
Y nói rồi liền chộp cổ tay Du Thản Chi. Du Thản Chi thấy con dao găm trong tay y hàn quang lấp loáng, sợ quá quay đầu lại nhìn Đinh Xuân Thu cầu cứu, kêu lên:
– Sư phụ, sư phụ!
Đinh Xuân Thu đứng ở bên cạnh chiếc cáng, đang khoái trá nhìn Tuệ Tịnh, tiếng kêu của Du Thản Chi không nghe thấy. Phong Ba Ác giơ chiếc dao lên toan cắt xuống chiếc mặt nạ. Du Thản Chi quýnh quáng, tay phải đẩy đối phương ra, y võ công không giỏi, xuất thủ không chuẩn, nghe bịch một tiếng trúng ngay vai trái Phong Ba Ác.
Phong Ba Ác đang hết sức chú tâm vào việc cắt chiếc mũ sắt, sợ lỡ tay cắt không chuẩn, chạm vào mặt y, có ngờ đâu bất thần bị đánh một chưởng. Thế đánh của chưởng đó kình lực lớn, Phong Ba Ác chỉ hự lên một tiếng, ngã sấp mặt xuống.
Tay trái y chống xuống đất, đẩy một cái nhảy vọt lên, ọe một tiếng thổ ra một ngụm máu tươi.
Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng ba người thấy Du Thản Chi đột nhiên hạ độc thủ khiến người em kết nghĩa của mình bị hố to, mặt trắng bệch, ba người
không khỏi lo âu. Công Dã Càn vội đưa tay bắt mạch, thấy mạch dồn dập, xem chừng có dấu hiệu trúng độc liền chỉ mặt Du Thản Chi mắng:
– Hảo tiểu tử, môn nhân Tinh Tú Lão Quái lấy oán báo đức, vừa ra tay đã giở thủ đoạn tàn độc hại người.
Y vội lấy trong bọc ra một cái bình nhỏ, mở nắp đổ ra một viên thuốc giải độc nhét vào mồm Phong Ba Ác còn Đặng Bách Xuyên và Bao Bất Đồng cùng lạng người xông ra chặn Đinh Xuân Thu và Du Thản Chi. Bao Bất Đồng ám vận nội kình vào tay trái, năm ngón tay thành trảo toan chộp vào ngực gã đầu sắt. Đặng Bách Xuyên kêu lên:
– Tam đệ ngừng tay.
Bao Bất Đồng rụt tay lại không đánh ra, đưa mắt nhìn đại ca, Đặng Bách Xuyên nói:
– Tứ đệ chúng ta chỉ vì lòng tốt muốn giúp y tháo cái mặt nạ ra, sao người của phái Tinh Tú lại ra tay đả thương là sao? Việc này xin Đinh lão tiên sinh chỉ giáo.
Đinh Xuân Thu thấy gã học trò mới thu chỉ một chưởng đã đánh bại một hảo thủ của nhà Cô Tô Mộ Dung, đại hiển uy phong cho phái Tinh Tú nên không khỏi đắc ý ngầm, càng thêm khát khao ham muốn con băng tằm, mỉm cười nói:
– Vị Phong tứ gia kia hung hăng hiếu đấu, thích nhúng tay vào chuyện đâu đâu. Người của phái Tinh Tú ta đội trên đầu mũ sắt hay mũ đồng thì có liên quan gì đến nhà Mộ Dung Cô Tô nhỉ?
Lúc này Công Dã Càn đã đỡ Phong Ba Ác ngồi lên, thấy y run lẩy bẩy, răng đánh vào nhau kêu lách cách, chẳng khác gì rơi vào một hầm băng, trong giây lát môi tím lại, sắc mặt từ trắng chuyển thành xanh. Giải độc hoàn của Công Dã Càn cực kỳ linh nghiệm nhưng Phong Ba Ác uống rồi chỉ như hòn đá ném vào biển cả, không còn tung tích gì.
Công Dã Càn nóng ruột, giơ tay thăm hơi thở y, đột nhiên một làn gió thổi buốt thấu xương vào gan bàn tay. Công Dã Càn vội vàng rụt tay về kêu lên:
– Không xong, sao lại lạnh đến thế này?
Y nghĩ thầm hơi trong miệng thở ra đã lạnh đến thế, ắt hẳn hàn độc trong người phải ghê gớm đến chừng nào. Trong tình thế nguy cấp làm vậy, không kịp nói chuyện phải quấy, y đành quay sang nói với Đinh Xuân Thu:
– Người em kết nghĩa của tôi trúng phải độc thủ của đệ tử tiên sinh, làm ơn ban cho thuốc giải.
Độc tính Phong Ba Ác trúng phải là do nội công Thần Túc Kinh của Du Thản Chi dồn chất kịch độc của con băng tằm ra, chẳng nói Đinh Xuân Thu không có thuốc giải, mà dẫu có giải dược y cũng đời nào chịu cho? Y ngẩng đầu cười ha hả, niệm lớn:
– A ô lục lỗ cộng! A ô lục lỗ cộng!
Tay áo bào phất một cái, một luồng gió xoáy tung ra. Các đệ tử phái Tinh Tú lập tức cả bọn chạy ra khỏi lương đình, chạy bay chạy biến. Bọn Đặng Bách Xuyên và tăng chúng Thiếu Lâm biết tay áo y có chứa độc phấn, thấy cơn gió lốc này như chọc vào mắt, thật là khó chịu, nước mắt nước mũi ràn rụa, mở mắt không nổi kêu thầm: Không xong rồi!.
Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng không hẹn mà cùng xông tới chặn trước mặt Phong Ba Ác, sợ rằng đối phương thừa cơ hạ độc thủ. Huyền Nạn nhắm mắt đánh ra một chưởng, trúng ngay cây cột của tòa lương đình, lập tức gãy đôi, lắc rắc mấy tiếng một bên căn nhà mát liền nghiêng xuống, ngói đất đổ xuống ào ào. Đến khi mọi người mở được mắt ra, Đinh Xuân Thu và Du Thản Chi đã chạy đâu mất.
Mấy nhà sư Thiếu Lâm kêu lên:
– Tuệ Tịnh đâu rồi? Tuệ Tịnh đâu rồi?
Thì ra nhân lúc hỗn loạn, Tuệ Tịnh đã bị Đinh Xuân Thu bắt đi mất rồi, chiếc cáng chụp lên đầu một nhà sư. Huyền Thống giận dữ quát lớn:
– Đuổi theo!
Ông phi thân chạy ra khỏi lương đình, Đặng Bách Xuyên và Bao Bất Đồng cũng vội theo, Huyền Nạn phất tay một cái cùng các đệ tử đi sau tiếp viện. Công Dã Càn ở lại lương đình còn chưa sụp lo cho nghĩa đệ nhưng mắt cũng đau buốt, nước mắt ràn rụa. Chỉ thấy Phong Ba Ác trán toát mồ hôi, chỉ trong giây lát liền đóng thành sương. Còn đang hoang mang bỗng nghe tiếng chân người, ngẩng lên thấy Đặng Bách Xuyên bế Bao Bất Đồng đang rảo bước quay về. Y kinh hoảng không sao kể xiết, kêu lên:
– Đại ca, tam đệ cũng bị thương nữa ư? Đặng Bách Xuyên đáp:
– Lại trúng phải độc thủ của tên đầu sắt.
Kế đó Huyền Nạn cũng dẫn quần tăng trở lại lương đình. Huyền Thống nằm phục trên lưng Huyền Từ, lạnh run cầm cập, hai hàm răng kêu lách cách. Huyền Nạn và Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn ai nấy bần thần. Đặng Bách Xuyên nói:
– Gã đầu sắt cùng tam đệ đối một chưởng, sau đó y lại cùng Huyền Thống đại sư đánh một chưởng nữa. Có ngờ đâu… có ngờ đâu hàn độc chưởng của phái Tinh Tú lại ghê gớm đến thế.
Huyền Nạn lấy trong túi ra một cái hộp gỗ nhỏ nói:
– Lục Dương Chính Khí Đơn của tệ phái có chút công hiệu khắc chế hàn độc.
Ông mở nắp lấy ra ba viên thuốc đỏ chon chót, đưa cho Đặng Bách Xuyên hai viên, còn viên thứ ba giao cho Huyền Thống. Sau chừng một bữa cơm, cơn lạnh của ba người thấy đỡ. Bao Bất Đồng ngoạc mồm ra chửi:
– Gã đầu sắt kia, con… con mẹ nó chứ, chưởng lực đó là cái gì thế? Đặng Bách Xuyên vội khuyên:
– Tam đệ, để sau này chửi cũng không muộn, ngươi nên ngồi xuống hành công đi. Bao Bất Đồng đáp:
– Sai bét, sai bét! Giờ này không chửi, đợi đến khi ô hô ai tai rồi thì đâu còn chửi gì được nữa.
Đặng Bách Xuyên mỉm cười nói:
– Chớ có lo, không chết đâu mà sợ.
Nói xong đưa bàn tay đè vào huyệt Chí Dương ở sau lưng y, dùng nội lực giúp y khu trừ hàn độc. Công Dã Càn và Huyền Nạn cũng chia ra giúp cho Phong Ba Ác và Huyền Thống hai người. Huyền Nạn, Huyền Thống hai người nội lực thâm hậu, chỉ một lát, Huyền Thống đã thở một hơi dài nói:
– Khỏe rồi!
Ông đứng lên nói tiếp:
– Lợi hại thật!
Huyền Nạn có bụng muốn giúp cho Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác hai người trừ hàn độc có điều bên kia chưa lên tiếng yêu cầu, mình tự ý đưa ra không khỏi coi họ nội công không đủ, trong võ lâm chuyện đó là điều cấm kỵ.
Đột nhiên Huyền Thống lảo đảo mấy cái, hai hàm răng gõ vào nhau kêu lách cách, vội vàng ngồi xuống hành công, nói:
– Sư… sư huynh, cái thứ… cái thứ hàn độc này… thật là quái dị…
Huyền Nạn vội vàng vận công tương trợ. Ba người liên tục hành công nhưng thân thể chỉ dễ chịu được một chút rồi lại phát tác, cho đến khi chiều tối, mỗi người uống ba viên Lục Dương Chính Khí Đơn mà hàn khí không thấy bớt chút nào. Huyền Nạn chỉ mang theo mười viên đan dược, bây giờ còn một viên, đành chia làm ba, đưa cho mỗi người một phần.
Bao Bất Đồng nhất định không uống nói:
– E rằng có uống đến một trăm viên, cũng… cũng chẳng đến đâu… Huyền Nạn bó tay không còn cách nào khác bèn nói:
– Lời của Bao thí chủ đúng lắm, loại thuốc Lục Dương Chính Khí Đơn này trị không đúng bệnh mà nội công của chúng ta cũng không đối phó nổi với môn âm độc này. Lão nạp nghĩ chỉ còn một cách là đi tìm Tiết Thần Y nhờ chữa cho, không biết bốn vị nghĩ sao?
Đặng Bách Xuyên mừng rỡ nói:
– Đã từng nghe Tiết Thần Y được người đời gọi là Diêm Vương Địch, dù bệnh nặng cỡ nào ông ta đều có thể chữa khỏi. Đại sư có biết vị thần y này ở đâu không? Huyền Nạn nói:
– Tiết Thần Y nhà ở Liễu Tông Trấn, phía nam thành Lạc Dương từ đây đến đó cũng không xa lắm. Ông ta với lão nạp có duyên gặp gỡ mấy lần, nếu đến xin chữa trị, có lẽ không chối từ đâu.
Ông lại tiếp:
– Nhà Mộ Dung Cô Tô danh mãn thiên hạ, Tiết Thần Y xưa nay vẫn ngưỡng mộ, nay có cơ duyên làm bạn với bốn vị anh hùng, ông ta chắc cũng vui vẻ lắm.
Bao Bất Đồng nói:
– Sai bét, sai bét! Tiết Thần Y thấy bọn ta đến cửa chắc là không vui vẻ gì. Có điều trong võ lâm ai ai cũng ghét cái môn “gậy ông đập lưng ông” của công tử chúng tôi, riêng có Tiết Thần Y là không sợ. Mai này ví thử y có… mệnh hệ gì, thì chỉ cần đến cầu công tử gia chúng tôi gậy ông đập lưng ông, thế là… thế là cái mạng già… của y có cơ cứu được.
Mọi người ai nấy cười ha hả, lập tức đi ra khỏi đình. Đến thị trấn trước mặt họ liền mướn ba cỗ xe cho ba người bị thương nằm dưỡng bệnh. Đặng Bách Xuyên lấy tiền mua thêm mấy con ngựa cho những nhà sư Thiếu Lâm cưỡi.
Đoàn người cứ đi chừng hai ba giờ thì lại ngừng để trợ giúp ba người bị thương kháng ngự hàn độc. Đến sau Huyền Nạn không còn tị hiềm gì, dùng Thiếu Lâm thần công tương trợ Bao Bất Đồng và Phong Ba Ác. Nơi đây tuy chỉ cách Liễu Tông Trấn vài trăm dặm đường nhưng đường núi gập ghềnh, lại phải ngừng luôn, nên đến chiều ngày thứ tư mới đến nơi. Tiết Thần Y ở trong núi sâu cách Liễu Tông Trấn ba mươi dặm về phía bắc, cũng may hôm ở Tụ Hiền Trang ông ta đã chỉ vẽ cho Huyền Nạn rõ ràng đường đi nước bước nên không mất công dò hỏi, đã đến trước cửa nhà Tiết Thần Y.
Huyền Nạn trông thấy bên cạnh dòng sông nhỏ mấy gian nhà lớn, tường trắng ngói đen, đằng trước là một vườn cây thuốc rộng, biết ngay là nơi ở của Tiết Thần Y. Ông giục ngựa chạy đến gần, từ xa đã thấy trước cửa nhà treo hai chiếc lồng đèn bằng giấy trắng, hơi kinh hãi: Nhà họ Tiết có bệnh nhân nào trị không được hay sao?. Đi thêm vài trượng nữa, thấy trên ngạch cửa có đóng mấy vuông vải gai, bên cạnh cửa có mấy cột phướn chiêu hồn, quả đúng là trong nhà có người chết.
Lại thấy trên đèn lồng viết hai hàng chữ đen: “Tiết Công Mộ Hoa chi tang, hưởng niên ngũ thập ngũ tuế”.
Huyền Nạn hoảng hốt: “Tiết Thần Y không chữa nổi cho mình, nay chết mất rồi, thật là bất hạnh làm sao”. Nghĩ đến cố nhân nay đã quy tiên, âm dương đôi ngả, trong lòng không khỏi thương cảm. Vừa lúc đó Đặng Bách Xuyên và Công Dã Càn cũng đã tới nơi, hai người cùng kêu lên:
Bỗng nghe trong nhà có tiếng đàn bà khóc vang lên:
– Ông ơi là ông ơi! Ông y thuật như thần, có ngờ đâu bất ngờ bị bệnh, bỏ chúng tôi mà đi. Ông ơi! Ông xưng là Diêm Vương Địch, vậy mà sau cùng cũng không thắng nổi Diêm Vương, e rằng khi xuống cõi âm, Diêm Vương thể nào cũng đòi nợ cũ, hành hạ khổ sở lắm ông ơi!
Chẳng bao lâu ba cỗ xe và sáu nhà sư Thiếu Lâm trước sau cũng đến. Đặng Bách Xuyên nhảy xuống ngựa, lớn tiếng nói:
– Thiếu Lâm Tự Huyền Nạn đại sư cùng bè bạn, có việc đặc biệt đến cầu Tiết Thần Y.
Tiếng của y vang vang như chuông, tiếng khóc trong nhà liền ngưng bặt. Một lúc sau, một ông già đi ra, ăn mặc theo lối đầy tớ, trên mặt còn hoen ngấn lệ, sụt sùi cực kỳ thương tâm, đấm ngực nói:
– Lão gia qua đời xế trưa hôm qua, các ông… các ông không gặp được nữa rồi. Huyền Nạn chắp tay hỏi lại:
– Tiết tiên sinh mắc phải chứng bệnh gì mà qua đời? Người lão bộc khóc nói:
– Cũng chẳng biết bệnh gì nữa, đột nhiên thở hắt ra rồi chết. Lão gia xưa nay thân thể khang kiện, tuổi cũng chưa già, có ai ngờ nổi. Lão nhân gia đi trị bệnh cho người ta, bệnh nào cũng khỏi, vậy mà… vậy mà bệnh chính mình… Huyền Nạn lại gặng thêm:
– Tiết tiên sinh trong nhà còn những ai? Người đầy tớ già nói:
– Chẳng còn ai cả, không còn một người nào.
Công Dã Càn và Đặng Bách Xuyên hai người đưa mắt nhìn nhau, cùng ngầm thấy người lão bộc này nói mấy câu đó có phần không thành thực, huống chi vừa mới rồi ai cũng nghe tiếng đàn bà khóc. Huyền Nạn thở dài nói:
– Chết sống đều có mạng, nếu đã thế thì cho chúng tôi tới trước linh vị người bạn cũ lạy một lạy.
Người lão bộc ấp úng:
– Cái đó… cái đó… vâng vâng!
Y dẫn mọi người vào trong cửa chính. Công Dã Càn đi sau một bước ghé tai hỏi nhỏ Đặng Bách Xuyên:
– Đại ca, tiểu đệ xem chừng có điều gì không minh bạch, tên lão bộc này dường như ra chiều ỡm ờ.
Đặng Bách Xuyên gật đầu, đi theo tên đầy tớ tới linh đường. Linh đường trần thiết sơ sài, mọi thứ còn chưa đầy đủ, trên linh bài có viết: Tiết Công Mộ Hoa chi linh vị
Mấy chữ đó nét bút cứng cỏi, hiển nhiên là thủ thư của một tay túc học, quyết không phải tên lão bộc này viết được. Công Dã Càn xem nhưng không nói gì. Mọi người hành lễ trước linh vị, Công Dã Càn quay đầu lại thấy nơi sân trong có đến mươi món quần áo phơi trên sào tre, áo đàn bà cũng có, lại cả quần áo trẻ con nam nữ, nghĩ bụng: Tiết Thần Y rõ ràng có thân quyến, sao lão bộc này lại bảo là chẳng còn ai?.
Huyền Nạn nói:
– Chúng tôi từ xa xôi đến đây để cầu Tiết Thần Y trị bệnh, có ngờ đâu Tiết tiên sinh lại đã tiên du, khiến cho không khỏi đau lòng. Trời cũng tối rồi, đêm nay cho ở lại quý phủ qua đêm.
Người lão bộc xem chừng khó xử nói:
– Cái đó… cái đó… thôi, cũng được! Mời chư vị ngồi nghỉ ngoài sảnh đường, tiểu nhân đi lo cơm nước.
Huyền Nạn nói:
– Quản gia chẳng cần phải lo lắng nhiều, cơm với chút rau dưa là được rồi. Người lão bộc đáp:
– Vâng! Vâng!
Y dẫn mọi người ra ngoài sảnh đường rồi quay vào trong. Một hồi lâu, người gia nhân đó vẫn không thấy đem trà ra, Huyền Nạn nghĩ thầm: “Người lão bộc này chủ mới chết, hồn vía để đâu đâu. Ôi! Huyền Thống sư đệ trúng phải hàn độc, không biết phải làm sao đây?”. Mọi người đợi đến hơn nửa giờ, nhưng vẫn không thấy bóng dáng người đầy tớ già đâu.
Bao Bất Đồng nóng ruột nói:
– Để ta đi kiếm chút nước uống! Hư Trúc nói:
– Bao tiên sinh, xin ông ngồi nghỉ. Để tiểu tăng đi xuống giúp người lão bộc nấu nước.
Y đứng lên đi vào nội đường. Công Dã Càn cũng muốn quan sát động tĩnh trong nhà họ Tiết bèn nói:
– Để ta đi với tiểu sư phụ.
Hai người đi ra phía sau nhà, phòng ốc nhà họ Tiết không phải là ít, trước sau cả thảy năm dãy, nhưng bên trong bên ngoài không thấy một bóng người. Hai người tìm được nhà bếp nhưng cũng không thấy người lão bộc đâu.
Công Dã Càn biết có chuyện khác thường, rảo bước quay trở về sảnh nói:
– Nhà này xem chừng không ổn, Tiết Thần Y có thể chỉ giả chết thôi. Huyền Nạn đứng lên lạ lùng hỏi:
Công Dã Càn đáp:
– Đại sư, tại hạ nghĩ mình nên đến xem cỗ quan tài.
Y chạy vào linh đường, giơ tay toan nhấc chiếc hòm, đột nhiên chợt nghĩ ra, rút tay về, lấy ở ngoài sân một chiếc áo dài đang phơi, lót vào tay. Phong Ba Ác nói:
– Sợ trên quan tài có độc ư? Công Dã Càn đáp:
– Lòng người khó lường, không thể không đề phòng.
Y vận kình nhắc chiếc quan tài lên, thấy cực kỳ trầm trọng, bên trong nhất định không phải chỉ là một xác người bèn nói:
– Tiết Thần Y quả nhiên giả chết. Phong Ba Ác rút đơn đao nói:
– Bẩy nắp hòm ra xem sao. Công Dã Càn nói:
– Người này được gọi là thần y, hẳn cũng giỏi sử dụng thuốc độc, tứ đệ phải cẩn thận.
Phong Ba Ác đáp:
– Tiểu đệ biết rồi.
Y luồn mũi đao vào khe quan tài ấn xuống, nghe tiếng ken két nắp hòm từ từ bật lên. Phong Ba Ác nín thở, sợ trong quan tài có phấn độc bay ra. Bao Bất Đồng nhảy ra sân chộp hai con gà mái đang tìm giun bắt dế ở dưới gốc quế, đem vào linh đường, vung tay ném hai con gà qua ngang quan tài. Hai con gà kêu quang quác, đáp xuống trước linh tòa, rồi chạy ra ngoài thiên tỉnh nhưng chỉ được mấy bước, đột nhiên ngã chổng cẳng, hai chân dãy mấy cái rồi nằm chết đứ đừ. Vừa lúc đó trong hiên nhà một luồng gió lạnh thổi qua, những chiếc lông trên mình hai con gà lập tức bay lên phơi phới. Mọi người thấy thế ai nấy kinh hãi, hai con gà vừa trúng độc chết mà bao nhiêu lông đã rụng sạch, đủ biết độc tính mạnh là dường nào khiến cho không ai còn dám đến gần chiếc quan tài nữa.
Huyền Nạn nói:
– Đặng thí chủ thử xem thế này là cớ gì? Tiết Thần Y quả thực trá tử hay sao? Ông vừa nói vừa nhún mình nhảy lên, tay trái chộp lấy xà ngang, nhìn vào trong quan tài, thấy bên trong đầy những đá tảng, giữa những cục đá là một bát lớn đựng đầy nước. Nước ở trong bát hiển nhiên phải là thuốc độc. Huyền Nạn lắc đầu, buông mình nhảy xuống nói:
– Tiết thí chủ nếu không muốn trị thương, việc gì phải bố trí cơ quan độc địa như thế này để hãm hại chúng ta. Phái Thiếu Lâm với y không thù không oán, làm như thế không vô lý quá hay sao? Không lẽ… không lẽ…
Ông ta nhắc lại hai chữ không lẽ rồi lặng thinh, trong lòng nghĩ thầm: “Không lẽ ông ta có thù oán sâu xa với họ Cô Tô Mộ Dung chăng?”. Bao Bất Đồng nói:
– Mộ Dung công tử và Tiết Thần Y xưa nay chưa biết nhau, cũng không thù oán. Nếu như hai bên có chuyện gì, bọn chúng tôi dù có phải đau đớn gấp mười chăng nữa, cũng không bao giờ lại hạ mình đi nhờ kẻ thù chữa trị cho đâu. Đại sư coi họ Bao, họ Phong là người hèn hạ, vô tư cách chăng?
Huyền Nạn chắp tay nói:
– Bao thí chủ nói phải lắm, lão tăng quả đoán sằng đoán bậy.
Ông ta là bậc cao tăng hữu đạo, trong bụng đã nghĩ như thế tuy chưa nói ra lời nhưng cũng nhận là mình quấy. Đặng Bách Xuyên nói:
– Nơi đây độc khí cực thịnh, không nên rốn lại lâu, mình ra tiền sảnh ngồi nghỉ.
Tất cả mọi người ra đến bên ngoài, người bàn thế này kẻ nói thế khác nhưng cũng không ai đoán được tại sao Tiết Thần Y giả chết rồi bố trí cơ quan giăng bẫy.
Bao Bất Đồng nói:
– Gã Tiết Thần Y quả thật đáng ghét, mình cho một mồi lửa đốt rụi cái tổ quỷ của lão đi.
Đặng Bách Xuyên ngăn lại:
– Ấy chết, không được đâu, dẫu sao Tiết tiên sinh cũng là một bằng hữu của phái Thiếu Lâm, chúng ta phải nể kim diện Huyền Nạn đại sư chớ có hồ đồ.
Lúc đó trời đã tối hoẳn, trong sảnh lại không đèn đóm gì, ai nấy vừa đói vừa khát nhưng chẳng ai dám đụng chạm đến một ngụm nước, một ly trà trong nhà.
Huyền Nạn nói:
– Hay là chúng mình đi ra, tìm một nhà nông nào ở quanh đây xin ngụm nước bữa cơm, Đặng thí chủ nghĩ thế nào?
Đặng Bách Xuyên đáp:
– Đúng đó. Thế nhưng chung quanh ba chục dặm tốt hơn hết không nên ăn uống gì. Thầy lang họ Tiết này mưu kế lắm, quyết chẳng phải chỉ sắp xếp một cỗ quan tài là xong đâu, nếu như các vị đại sư có chuyện gì, anh em chúng tôi thật là ân hận.
Y và Công Dã Càn tuy chưa biết rõ nguyên ủy ra sao nhưng cũng cho rằng cái tiếng gậy ông đập lưng ông của nhà Mộ Dung quá vang dội, trên giang hồ kết biết bao nỗi oan cừu, có lẽ Tiết Thần Y có thân bằng quyến thuộc bị hại, mối hận này đổ cả lên đầu nhà Cô Tô Mộ Dung.
Mọi người đứng lên, đi ra cửa chính, đột nhiên trên bầu trời phía tây bắc có ánh sáng lóe lên, kế đó một đốm lửa đỏ nổ tung ra, lập tức chuyển sang màu lục thật chẳng khác gì mưa hoa đầy trời, lả tả rơi xuống cực kỳ diễm ảo. Phong Ba Ác nói:
– Ồ, ai đốt pháo bông kìa!
Lúc đó không phải tiết Nguyên Tiêu, cũng chẳng phải Trung Thu, sao lại có người đốt pháo bông nhỉ? Chẳng mấy chốc, lại có một chiếc pháo bông màu vàng bay vút lên không, nở ra muôn vạn đóa sao băng, đụng chạm lẫn nhau.
Công Dã Càn chợt nghĩ ra, nói:
– Đây không phải pháo bông đâu, mà là tín hiệu của kẻ địch kéo đến tấn công đó. Phong Ba Ác kêu lên:
– Hay lắm, hay lắm! Đánh một trận cho sướng tay. Đặng Bách Xuyên nói:
– Tam đệ, tứ đệ, các ngươi vào trong sảnh canh chừng, ta chặn phía trước mặt, nhị đệ đoạn hậu. Huyền Nạn đại sư, việc này không liên quan gì đến phái Thiếu Lâm, xin quý vị cứ dựa lưng vào tường đứng coi, miễn là đừng giúp bên nào, nhà Mộ Dung thâm cảm đại đức.
Huyền Nạn nói:
– Đặng thí chủ sao lại nói thế? Nếu kẻ địch đến tấn công có thù oán với chư vị thì phải trái ngay gian, chúng tôi sẽ theo công tâm mà xử, không để cho họ thừa gió bẻ măng, cậy đông đánh ít. Nếu đúng là cùng bọn với Tiết Thần Y, lén lút bố trí hầm bẫy để làm hại người thì các vị với chúng tôi cũng cùng chung cừu địch, lẽ nào lại tụ thủ bàng quan? Này các tì khưu, chuẩn bị nghênh địch.
Bọn Tuệ Phương, Hư Trúc cùng lớn tiếng đáp lời. Huyền Thống nói:
– Đặng thí chủ, lão nạp với hai vị sư đệ của thí chủ đồng bệnh tương lân lẽ dĩ nhiên phải cùng nắm tay nhau mà kháng địch.
Còn đang nói chuyện, lại có thêm hai chiếc pháo bông nữa bắn thẳng lên trời, lần này xem chừng gần hơn. Một hồi nữa, lại có thêm hai cái pháo bông khác, trước sau như thế là sáu cái rồi. Mỗi chiếc pháo bông màu sắc hình dáng không giống nhau, có cái giống như một cái bút thật lớn, có cái thì vuông vức bốn bề, tông như một bàn cờ, cái thì lại giống hình một chiếc đại phủ, có cái lại giống như một bông hoa mẫu đơn to.
Sau đó bầu trời lại tối đen như mực.
Huyền Nạn ra lệnh cho sáu đệ tử Thiếu Lâm canh chừng bốn phía nhưng một hồi lâu vẫn không nghe động tĩnh gì. Ai nấy ngưng thần nín thở, lại sau chừng một bữa ăn nữa, bỗng nghe phía đông có tiếng đàn bà hát lên rằng:
Lông mày luống tỉa đã bao nhiêu, Phấn nhạt hoen màu lệ nhỏ tiêu. Đong đưa biếng chải thêm hờ hững, Ngọc lấp sao đầy nỗi tịch liêu?
Giọng ca dịu dàng uyển chuyển đầy vẻ u oán thê lương. Giọng người đó vừa hát xong một khúc, lập tức chuyển qua giọng nam rằng:
– Chao ôi ái khanh đấy ư? Quả nhân đã lâu lắm không được gặp nàng, trong lòng thương nhớ xiết bao. Đây ta ban cho nàng một đấu trân châu, khanh gia mau nhận lấy.
Người đó nói xong, lại chuyển qua giọng nữ:
– Bệ hạ đã có Dương phi bầu bạn, đến buổi chầu sớm cũng chẳng ra, còn hơi đâu mà nhớ đến thần thiếp con người bạc mệnh này, than ôi….
Nói tới đây liền cất tiếng khóc thút thít. Các nhà sư Thiếu Lâm không biết việc đời, không hiểu sao người này lúc thì là nam, lúc lại là nữ, làm trò quỷ quái gì đây, chỉ thấy nghe rồi trong lòng cực kỳ buồn bã. Bọn Đặng Bách Xuyên thì biết người này đang diễn tích Đường Minh Hoàng và Mai Phi, khi thì đóng vai Mai Phi lúc lại đóng vai Đường Minh Hoàng, giọng điệu thanh âm giống hệt, sao lại có người khéo đến thế, ai nấy trong lòng rộn ràng, không hiểu có dụng ý gì.
Lại nghe người đó tiếp tục:
– Ái phi chớ nên khóc lóc, mau mau dọn yến tiệc ra. Nàng thổi tiêu, quả nhân sẽ ca một khúc để giải sầu cho ái khanh.
Người kia lại chuyển qua giọng đàn bà nói:
– Tiện thiếp ngày ngày chảy nước mắt ra rửa mặt, chỉ mong được gặp lại đấng quân vương một lần thôi. Hôm nay được toại nguyện rồi, dẫu có chết cũng đành nhắm mắt, hu hu…hu hu…
Bao Bất Đồng lớn tiếng nhại lại:
– Cô vương là An Lộc Sơn đây. Này vua nhà Đường Lý Long Cơ ơi, ngươi là một gã hồ đồ, mau giao Dương Ngọc Hoàn ra cho ta.
Người bên ngoài kêu A lên một tiếng dường như kinh hãi đang khóc lập tức im bặt. Chỉ trong giây lát, chung quanh bốn bề lặng như tờ.