Thiên lý mang mang nhược mộng
Hai người lập tức xuôi nam, từ sơn lĩnh vòng qua Nhạn Môn Quan đến một tòa tiểu thị trấn, tìm một căn khách điếm. A Châu không đợi Kiều Phong mở lời đã bảo điếm tiểu nhị dọn hai mươi cân rượu. Gã tửu bảo thấy hai người vợ chồng không ra vợ chồng, anh em chẳng phải anh em đã kỳ lạ, lại nghe sai dọn hai mươi cân rượu, càng thêm ngạc nhiên, ngơ ngẩn đứng nhìn hai người, không đi lấy rượu, cũng chẳng đáp lời.
Kiều Phong trừng mắt nhìn y, không giận mà có uy, gã tiểu nhị hoảng hồn vội lật đật quay đi, miệng lẩm bẩm:
– Hai mươi cân rượu? Chắc để tắm hay sao? A Châu cười nói:
– Kiều đại gia, chúng mình đi tìm Từ trưởng lão, xem chừng chỉ chừng hai ngày là người ta sẽ phát giác ngay. Trên đường gặp đâu đánh đó, gặp ai giết nấy, tuy cũng vui thật nhưng e Từ trưởng lão nghe hơi gió đã chạy cong đuôi, thì làm sao kiếm ông ta được.
Kiều Phong cười ha hả nói:
– Cô đừng có tâng bốc ta, trên đường ví như gặp ai đánh nấy, kẻ địch càng lúc càng đông, chúng mình rồi thể nào cũng bỏ mạng…
A Châu nói:
– Nói đến hung hiểm thì cũng không đến nỗi nào, có điều bọn chúng nghe hơi gió đã cụp đuôi chạy hết thì thật là hỏng việc.
Kiều Phong nói:
– Thế theo cô thì mình phải làm cách nào? Chúng mình ban ngày ở trong khách điếm, ban đêm ra đi có được chăng?
A Châu mỉm cười nói:
– Muốn bọn họ không nhận ra mình thì thật dễ. Chỉ có điều Kiều đại hiệp danh mãn thiên hạ, không biết có chịu cải trang hay không?
Nói đi nói lại, nàng cũng đi đến “cải trang”. Kiều Phong cười nói:
– Ta không phải người Hán, quần áo người Hán đây vốn đã không muốn mặc nữa rồi. Thế nhưng nếu mặc quần áo Khất Đan thì ở Trung Nguyên đi lại thật bất tiện. A Châu, cô thử nghĩ ta nên mặc thế nào cho phải?
A Châu đáp:
– Đại gia thân thể cao to, đi đâu cũng khiến người ta chú ý, tốt nhất là cải trang thành một giang hồ hào sĩ hình mạo tầm thường, trên người không có điểm gì đặc biệt. Những người như thế trên đường mỗi ngày người ta gặp cả trăm, chẳng ai thèm để ý đến đại gia là ai đâu.
Kiều Phong vỗ đùi nói:
– Hay lắm! Hay lắm! Uống rượu xong cô giúp ta cải trang là xong.
Ông uống hết hai mươi cân rượu rồi, A Châu liền ra tay ngay. Bột mì, hồ dán, a dao đủ các loại nhồi nặn, bao nhiêu điểm khác người của Kiều Phong đều biến mất. A Châu lại thêm cho ông ta một bộ ria mép khiến Kiều Phong soi gương cũng còn không nhận ra mình là ai. Sau đó A Châu cũng tự cải trang thành một hán tử trung niên.
A Châu cười nói:
– Hình dáng bên ngoài của đại gia đã thay đổi rồi, thế nhưng khi nói năng, hay uống rượu người ta nhận ra ngay.
Kiều Phong gật đầu:
– Ừ, thế thì nói ít đi, uống cũng bớt.
Thành ra trên đường xuôi nam, Kiều Phong quả thật ít khi mở miệng, mỗi bữa ăn cũng chỉ uống hai ba cân, hết sức giữ ý. Hôm đó đến Tam Giáp Trấn ở Tấn Nam, hai người ghé vào một cái quán mì, bỗng nghe ngoài cửa có hai gã ăn mày nói chuyện với nhau. Một gã nói:
– Từ trưởng lão chết thật thảm thiết, trước ngực sau lưng, gân cốt đều đứt hết chắc là gã ác tặc Kiều Phong hạ độc thủ.
Kiều Phong kinh hoảng nghĩ thầm: “Từ trưởng lão chết rồi sao?”. Ông liền đưa mắt cho A Châu. Lại nghe một gã ăn mày nói:
– Ngày mai tại Vệ Huy Hà Nam phát tang, trưởng lão trong bang, cùng các anh em đều đến tế viếng, để bàn tính làm cách nào bắt được Kiều Phong.
Kế đó gã ăn mày liền nói mấy câu ám ngữ, Kiều Phong nghe qua hiểu ngay, y nói là Kiều Phong thanh thế rất lợi hại nên không thể nói năng lung tung để thủ hạ của y nghe được. Kiều Phong và A Châu ăn mì xong liền rời Tam Giáp Trấn, đi ra ngoài thành. Kiều Phong nói:
– Chúng mình nên đi Vệ Huy xem sao, không chừng kiếm được chút manh mối. A Châu đáp:
– Đúng đó, Vệ Huy thì phải nên đi. Những người đến phúng điếu Từ trưởng lão đa số là cựu bộ thuộc của đại gia cho nên cử chỉ ngôn ngữ chớ có để lộ chân tướng. Kiều Phong gật đầu:
– Ta biết rồi.
Hai người liền quay sang hướng đông, đi về phía Vệ Huy. Đến ngày thứ ba đã đến Vệ Huy, trong thành đầu đường xó chợ đâu đâu cũng toàn là đệ tử Cái Bang. Kẻ thì vào tửu lâu ngồi bàn ăn uống nhồm nhoàm, đứa thì nơi đường hẻm mổ heo giết chó, có người vòi vĩnh cướp giật ngay ở ngoài đường. Kiều Phong trong lòng đau xót, thấy đại bang vẫn được coi là số một trên giang hồ nay chẳng còn quy củ gì, không thể nào bì với năm xưa khi mình còn chấp chưởng bang chủ kỷ luật nghiêm minh, khí tượng hưng vượng, mới chẳng bao lâu đã bị người đời coi rẻ.
Vẫn biết Cái Bang với ông nay không còn bạn bè gì nữa, thế nhưng bao nhiêu tâm huyết của mình bỏ ra chỉ một ngày tan ra mây khói, lòng ông không khỏi ngậm ngùi.
Bỗng nghe mấy đệ tử Cái Bang nói với nhau mấy câu mật hiệu, ông biết được linh vị của Từ trưởng lão để tại một khu vườn hoang nơi phía tây thành. Kiều Phong và A Châu mua ít nhang đèn, vàng mã đi theo người ta đến nơi đó, khấu đầu trước bài vị Từ trưởng lão.
Chỉ thấy trên linh bài của Từ trưởng lão bôi đầy máu tươi, đó là tập tục của Cái Bang ý nói người chết bị ám hại, người trong bang phải lo việc trả thù rửa hận. Trong nhà quàn ai nấy ngoạc mồm thống mạ Kiều Phong, có ai ngờ đâu ông đang ở ngay bên cạnh. Có mấy tên đệ tử bảy túi võ công cao lặng lẽ bàn luận, nói Kiều Phong đã đánh gãy xương sườn trước ngực Từ trưởng lão, đập nát ngũ tạng, sao lại còn đánh vào xương sườn sau lưng? Ra tay quá mức độc ác, chẳng biết gì là lẽ phải. Kiều Phong e ngại có người nhìn ra mình nên không dám lần khân, lập tức sóng vai A Châu đi ra, nghĩ thầm: “Từ trưởng lão chết rồi thì trên đời này biết được “đại ca thủ lĩnh” lại bớt đi một người nữa”.
Bỗng thấy nơi đầu hẻm tít đằng xa có bóng người thoáng một cái, đó là một người đàn bà thân thể cao to. Kiều Phong tinh mắt nhận ra ngay đó là Đàm bà, nghĩ bụng: “Hay quá, chắc là mụ ta đi điếu tang Từ trưởng lão đây, mình đang muốn đi tìm”. Lại thấy thêm một bóng người vụt qua nữa, khinh công cực kỳ cao siêu, chính là Triệu Tiền Tôn. Kiều Phong ngạc nhiên: “Hai người này thập thò lén lút không biết có cái trò gì đây?”.
Ông biết rằng hai người vốn dĩ là sư huynh muội, tình ái dây dưa đến nay chưa dứt, nghĩ thầm: “Hai người đều sáu bảy mươi tuổi rồi, không lẽ lại còn tư tình với nhau hay sao?”. Ông bản tính vốn không hay xen vào chuyện riêng của người khác, nhưng Triệu Tiền Tôn biết được “đại ca thủ lĩnh” là ai, Đàm công, Đàm bà chắc cũng biết, nếu như bắt thóp được chuyện gì thì có thể thừa cơ ép buộc hai người thổ lộ, nên ghé tai A Châu nói:
– Nàng ở khách điếm chờ ta.
A Châu gật đầu, Kiều Phong lập tức đuổi theo hướng Triệu Tiền Tôn vừa chạy. Triệu Tiền Tôn chọn toàn những nơi ẩn khuất mà đi, hết náu dưới góc tường phía đông lại lẻn trên mái nhà phía tây, cử chỉ hết sức ngụy bí đi ra phía cửa đông. Kiều Phong theo xa xa, trước sau không để y phát giác, thấy y chạy đến bờ sông, khom người chui vào khoang một chiếc thuyền gỗ lớn. Kiều Phong đề khí chạy tới, nhún nhẩy mấy cái đã đến bên thuyền, nhẹ nhàng nhảy xuống mui, ghé sát tai vào thuyền lắng nghe.
Trong khoang thuyền, Đàm bà thở dài một tiếng nói:
– Sư ca, hai người mình tuổi tác cũng đã cao rồi, những chuyện ngày xưa có hối cũng đã muộn, nhắc lại có ích gì đâu?
Triệu Tiền Tôn nói:
– Cuộc đời ta coi như bỏ đi rồi, có hối cũng đâu còn kịp. Ta hẹn nàng ra đây cũng chẳng có chuyện gì, Tiểu Quyên, chỉ mong được nghe nàng hát lại mấy câu ngày xưa nàng vẫn thường hát mà thôi.
Đàm bà nói:
– Ôi, sư ca quả thực si mê nực cười. Thằng cha đó tới Vệ Huy thấy sư ca đã không lấy gì làm vui, y tính lại đa nghi, sư ca không nên chàng màng tiểu muội là hơn.
Triệu Tiền Tôn đáp:
– Sợ gì cơ chứ? Mình sư huynh muội quang minh lỗi lạc, nói chút chuyện xưa, có gì mà không được?
Đàm bà thở dài một tiếng, nhỏ nhẹ nói:
– Mấy khúc hát năm xưa, mấy khúc hát năm xưa…
Triệu Tiền Tôn thấy bà ta đã động lòng, lại càng năn nỉ, nói:
– Tiểu Quyên, hôm nay hai đứa mình gặp nhau, không biết sau này tới chừng nào mới lại trùng phùng, e rằng mạng ta cũng chẳng được bao lâu, nàng dẫu có muốn hát lại cho ta nghe ta cũng chẳng có cái phúc mà đến nghe được nữa.
Đàm bà nói:
– Sư ca chớ có nói thế. Nếu như quả huynh muốn nghe, thì tiểu muội sẽ hát nho nhỏ một khúc cho sư ca nghe.
Triệu Tiền Tôn vui mừng nói:
– Hay quá, đa tạ sư muội. Tiểu Quyên, cảm ơn nàng. Đàm bà liền khoan thai hát:
Năm nao chàng ghé thăm nhau,
Thiếp đang giặt lụa bên cầu dưới khe…
Mới hát được hai câu, nghe có tiếng lách cách, khoang thuyền mở tung, một đại hán xông vào. Kiều Phong cải trang rồi nên Đàm bà và Triệu Tiền Tôn không nhận ra. Hai người đang hoảng hốt, thấy không phải là Đàm công nên cũng yên tâm, quát hỏi:
Kiều Phong lạnh lùng nhìn hai người, nói:
– Một gã khinh bạc vô hạnh, dụ dỗ đàn bà có chồng, một người dâm đãng vô sỉ, trốn chồng đi gặp tình lang…
Ông chưa nói dứt lời, Đàm bà và Triệu Tiền Tôn cùng ra tay, chia hai bên đánh tới. Kiều Phong thân hình hơi nghiêng qua, lật một cái đã nắm ngay được cổ tay Đàm bà, kế tiếp cùi chỏ thúc ra, phát sau mà đến trước, tấn công vào sườn bên trái Triệu Tiền Tôn.
Triệu Tiền Tôn và Đàm bà đều là những đại cao thủ võ lâm, những tưởng chỉ ra một chiêu đã khống chế được kẻ địch, đâu có ngờ rằng con người hình mạo thật bình thường kia võ công lại cao siêu đến như thế, vừa ra tay đã đổi thủ thành công. Trong khoang thuyền chật hẹp, không thể thi triển tài nghệ, thế nhưng Kiều Phong đánh xa cũng hay, đánh gần cũng giỏi, sử dụng toàn cầm nã thủ và đòn nhập nội mà thôi, trong khu vực chưa đầy một trượng của khoang thuyền vẫn cực
kỳ linh động. Đấu đến hiệp thứ bảy, hông Triệu Tiền Tôn bị trúng một chỉ, Đàm bà kinh hãi ra tay chậm lại, bị ngay một chưởng vào lưng, sụm ngay xuống.
Kiều Phong lạnh lùng nói:
– Xin hai vị ở đây nghỉ ngơi, trong khu vườn hoang trong thành Vệ Huy đang có rất nhiều anh hùng hảo hán đến viếng linh vị Từ trưởng lão, ta đi mời họ tới để họ bình phẩm xem đúng hay sai.
Triệu Tiền Tôn và Đàm bà hoảng hốt, cố gắng vận khí nhưng huyệt đạo đã bị phong rồi, đến đầu ngón tay cũng không cử động được. Hai người tuổi tác đã cao, vốn không có ý niệm tình dục gì, hẹn nhau ở đây, chẳng qua để kể lể tình xưa nghĩa cũ chứ có chuyện gì ra ngoài vòng lễ giáo đâu. Thế nhưng lúc đó đang thời Bắc Tống, lễ pháp ai ai cũng coi rất nặng, anh hùng hảo hán giang hồ phạm vào nữ sắc ắt bị người đời cười chê. Một nam một nữ lén lút gặp gỡ nơi thuyền này, nào có ai tin rằng hai người chỉ gặp nhau để hát cho nhau nghe vài câu? Nói với nhau vài câu chuyện tầm phào? Nếu ai ai cũng biết đến thì còn làm người sao được? Ngay cả Đàm công cũng chẳng còn mặt mũi nào.
Đàm bà vội nói:
– Vị anh hùng kia, chúng tôi có làm gì đắc tội với các hạ đâu, nếu có thể dung tình một chút, ta… ta ắt có đền đáp.
Kiều Phong nói:
– Đền đáp thì không cần. Ta chỉ hỏi một câu, các ngươi cũng chỉ đáp lại ba chữ. Nếu như nói thực, tại hạ lập tức giải khai huyệt đạo cho hai người ngay, phủi tay đi thẳng. Chuyện ngày hôm nay nhất định không một ai nhắc đến nữa.
Đàm bà nói:
– Nếu như lão thân biết được thì nguyện sẽ phụng cáo ngay. Kiều Phong hỏi:
– Có người từng viết thư cho Uông bang chủ của Cái Bang, nói về chuyện Kiều Phong, người viết thư đó người khác gọi là “đại ca thủ lĩnh”, kẻ đó là ai? Đàm bà còn ngần ngừ chưa trả lời, Triệu Tiền Tôn lớn tiếng nói:
– Tiểu Quyên, không được nói, nghìn lần vạn lần không thể nói. Kiều Phong trừng mắt nhìn y, hỏi lại:
– Ngươi thà chịu thân bại danh liệt nhưng không chịu nói hay sao? Triệu Tiền Tôn đáp:
– Lão tử thà chết thì thôi. Vị “đại ca thủ lĩnh” này có ơn với ta, ta nhất quyết không thể nói tên ra được.
Kiều Phong hỏi thêm:
– Thế dẫu cho Tiểu Quyên thân bại danh liệt, ngươi cũng không cần, phải không? Triệu Tiền Tôn đáp:
– Nếu Đàm công biết chuyện hôm nay, ta lập tức tự vẫn trước mặt y, lấy cái chết tạ tội, thế là xong.
Kiều Phong quay sang Đàm bà:
– Người đó chưa chắc đã có ơn gì với bà, vậy bà nói ra đi, tất cả sẽ bình yên vô sự, bảo toàn được danh dự cho cả Đàm công Đàm bà, cũng bảo tồn cả tính mệnh cho sư ca của bà nữa.
Đàm bà nghe thấy ông ta đem tính mạng Triệu Tiền Tôn ra uy hiếp, không khỏi rùng mình nói:
– Được, thôi để ta nói cho người nghe, người đó là… Triệu Tiền Tôn vội kêu lên:
– Tiểu Quyên, nàng chớ có nói ra, nhất định không thể nói ra. Ta van xin nàng, van xin nàng! Gã này chắc là thủ hạ của Kiều Phong, nàng mà nói ra, tính mạng của vị “đại ca thủ lĩnh” kia thể nào cũng nguy hiểm.
Kiều Phong đáp:
– Ta chính là Kiều Phong, các ngươi không nói ra hậu hoạn sẽ không biết đâu mà lường.
Triệu Tiền Tôn giật mình:
– Thảo nào công phu của ngươi ghê gớm thế. Tiểu Quyên ơi, trong đời ta chưa từng cầu xin nàng việc gì, đây là việc duy nhất ta xin nàng, dẫu thế nào chăng nữa mong nàng bằng lòng cho ta.
Đàm bà nghĩ đến ông ta mấy chục năm qua thương yêu ái mộ, tình sâu nghĩa nặng, mình phụ ông ta đã nhiều, tấm lòng mong mỏi được lấy nhau xưa nay chưa từng thổ lộ, vậy mà lần này vì muốn che dấu cho ân nhân, thà chết thì thôi, không thể nào làm hỏng cái nghĩa cử của sư ca được nên đáp:
– Kiều bang chủ, việc ngày hôm nay, làm điều thiện cũng tùy ông, mà làm điều ác cũng tùy ông. Hai sư huynh muội chúng tôi tự vấn lương tâm không điều gì đáng hổ thẹn, có đất trời chứng giám. Việc các hạ muốn biết, xin tha thứ lão thân không thể cáo tri được.
Mấy câu nói của bà ta nghe ra có vẻ khách khí, nhưng lời như chém đinh chặt sắt, nhất định cách nào cũng không thể nói ra.
Triệu Tiền Tôn vui mừng nói:
– Tiểu Quyên, đa tạ nàng, đa tạ nàng.
Kiều Phong biết rằng có bức bách thêm cũng không ích lợi gì, hừ một tiếng, rút chiếc trâm ngọc trên đầu Đàm bà, nhảy ra khỏi khoang thuyền chạy trở về hướng thành Vệ Huy để tìm nơi ở của Đàm công. Ông hóa trang nên không ai nhận ra, Đàm công, Đàm bà ngụ tại Như Quy khách điếm, hỏi là biết ngay.
Vào đến khách điếm thấy Đàm Công chắp tay sau lưng ở trong phòng đi qua đi lại xem ra cực kỳ bồn chồn. Kiều Phong đưa tay ra, lòng bàn tay là chiếc ngọc thoa của Đàm bà.
Từ lúc thấy Triệu Tiền Tôn đi theo như hình với bóng đến Vệ Huy, Đàm công trong dạ chẳng an, đến lúc này lại thấy vợ mình đi đâu lâu quá đang lo, không hiểu bà ta đang ở chỗ nào, bây giờ thấy cây trâm của Đàm bà, vừa mừng vừa lo bèn hỏi:
– Các hạ là ai? Có phải chuyết kinh nhờ các hạ đến đây chăng? Không biết có điều chi dạy bảo?
Nói rồi đưa tay cầm chiếc trâm ngọc. Kiều Phong để ông ta lấy chiếc thoa rồi mới nói:
– Tôn phu nhân bị người ta bắt giữ, nguy đến nơi rồi. Đàm công cực kỳ kinh hoảng nói:
– Chuyết kinh võ công cũng khá, sao lại dễ dàng bị người ta bắt giữ được? Kiều Phong đáp:
– Ấy là Kiều Phong.
Đàm công nghe thấy tên “Kiều Phong” không còn nghi ngờ gì nữa, lại càng băn khoăn lo lắng vội hỏi:
– Kiều Phong ư? Ôi chao, nếu quả là y thì phiền quá, nội nhân ta… ta đang ở chỗ nào?
Kiều Phong đáp:
– Các hạ muốn tôn phu nhân sống cũng thật dễ dàng, mà muốn bà ta chết thì cũng không khó.
Đàm công tính tình trầm ổn, trong bụng tuy lo nhưng vẻ mặt vẫn bình thản như không hỏi lại:
– Xin được thỉnh giáo. Kiều Phong nói:
– Kiều Phong có một việc muốn hỏi Đàm công, nếu như ông cứ sự thực mà nói lập tức thả tôn phu nhân ra, không để tổn hại một sợi tóc, còn như các hạ không chịu nói thì chỉ còn nước xử tử bà ta đem thi thể tôn phu nhân với thi thể Triệu Tiền Tôn chôn chung hai người một huyệt.
Đàm công nghe câu cuối cùng làm sao còn nhịn được nữa, rống lên một tiếng, vung chưởng đánh vào mặt Kiều Phong. Kiều Phong nghiêng người hơi lùi lại một chút, chưởng đó liền không đánh trúng. Đàm công hoảng hốt, nghĩ thầm chưởng của mình nhanh như ánh chớp, cực kỳ ghê gớm, y chỉ nhẹ nhàng tránh được dễ dàng, lập tức chưởng bên phải đánh xéo qua đồng thời tả chưởng tạt ngang.
Kiều Phong thấy trong phòng chật hẹp không dễ gì tránh né được, liền gồng tay phải lên chịu đòn. Nghe bịch một tiếng, chưởng đó đánh trúng tay ông, Kiều Phong không nhúc nhích, tay phải liền vươn qua giữ chặt đầu vai ông ta đè ông ta xuống.
Đàm công lập tức cảm thấy vai mình như phải vác một tảng đá nghìn cân vội vàng vận kình phản kháng nhưng đầu vai như đụng phải một ngọn núi, xương sống kêu lách cách liên hồi tưởng chừng muốn gãy, chỉ còn nước khuỵu đầu gối chứ không làm gì khác hơn được. Ông hết sức vùng lên nhất định không chịu khuất phục, nhưng không cách nào hít thêm một hơi, hai đầu gối bải hoải, không tự chủ được đành phải gục xuống.
Kiều Phong có ý định làm nhụt ngạo khí của ông ta nên tuy đã bị buộc lòng quỳ xuống rồi nhưng sức đè xuống không thôi, tới lúc lưng cong như cánh cung, trán chạm đất. Đàm công mặt mày đỏ ké, cố vùng vẫy, đem hết sức lực bung người lên. Đột nhiên Kiều Phong buông tay ra, sức nặng nghìn cân trên vai Đàm công biến mất, ông ta xuất kỳ bất ý, thu thế không kịp, lập tức nhảy vọt lên cao đến hơn một trượng, nghe bình một tiếng đầu đã đụng vào xà nhà khiến cây gỗ gãy ra làm đôi.
Đàm công từ trên không rơi xuống, Kiều Phong không để ông ta chạm đất, vươn tay phải ra, chộp ngay ngực. Cánh tay Kiều Phong thật dài, Đàm công người nhỏ thó, dù cố đấm đá cũng không sao đụng được vào đối phương, huống chi ông ta hai chân bông bênh lơ lửng, dẫu võ công cao siêu bậc nào cũng không sử dụng được, trong cơn nguy cấp chợt hiểu ra kêu lên:
– Thì ra ngươi chính là Kiều Phong. Kiều Phong đáp:
– Dĩ nhiên là ta rồi! Đàm công giận dữ nói:
– Ngươi… ngươi… con mẹ ngươi chứ, mắc mớ gì lại dính dáng cả thằng khốn kiếp Triệu Tiền Tôn?
Ông ta giận nhất là câu đem Đàm bà giết rồi sẽ đem chôn chung với xác Triệu Tiền Tôn. Kiều Phong nói:
– Mụ vợ ngươi muốn dính dáng đến y thì có liên can gì đến ta đâu? Ngươi có muốn biết Đàm bà lúc này đang ở đâu không? Có muốn biết bà ta đang ỷ eo tình thoại, hát xướng tình ca với ai không?
Đàm công nghe nói thế, đoán chừng vợ mình đang cùng với Triệu Tiền Tôn ở một nơi, không thể không làm cho ra đầu ra đũa liền nói:
– Mụ ta ở đâu? Xin ông dẫn ta đến. Kiều Phong cười khẩy:
– Thế ngươi làm gì cho ta chưa? Tại sao ta lại phải dẫn ngươi đi chứ? Đàm công nhớ lại câu nói của ông hồi nãy bèn hỏi:
– Ông bảo có chuyện muốn hỏi ta, thế là chuyện gì? Kiều Phong đáp:
– Hôm trước ở rừng hạnh ngoài thành Vô Tích Từ trưởng lão có mang lại một lá thư, viết gửi bang chủ tiền nhiệm Cái Bang Uông Kiếm Thông, lá thư đó do ai viết thế?
Đàm công chân tay run rẩy, lúc này y bị Kiều Phong xách lên, thân thể lơ lửng, đối phương chỉ cần nhả nội lực lập tức giết chết y ngay. Thế nhưng bản tính y trời sinh lì lợm, bèn nói:
– Người đó có thù giết cha ngươi, ta nhất quyết không thể tiết lộ tính danh, nếu không ngươi thể nào cũng kiếm để báo thù, thế có phải là ta hại mạng ông ấy hay sao?
Kiều Phong nói:
– Nếu ngươi không nói thì ta lấy mạng ngươi trước. Đàm công cười ha hả nói:
– Đàm mỗ ta há lại tham sống sợ chết, bán rẻ bạn bè hay sao?
Kiều Phong nghe ông ta cố gắng bảo toàn nghĩa khí, trong bụng kính phục, nếu phải chuyện khác ông nhất quyết không truy bức làm gì, thế nhưng thù giết cha mẹ đâu phải tầm thường bèn nói:
– Nhà ngươi không coi mạng mình vào đâu, đến tính mạng vợ cũng chẳng đoái hoài hay sao? Đàm công Đàm bà thanh danh trôi theo dòng nước, tất cả mọi người cười chê không lẽ không sợ?
Đàm công nghiêm nghị nói:
– Đàm mỗ ngồi không nghiêng ngả, đứng chẳng vẹo xiêu, bình sinh chưa từng làm chuyện không hay không phải với bạn bè, làm gì có chuyện “thanh danh trôi theo dòng nước, tất cả mọi người cười chê ” được?
Kiều Phong thản nhiên nói:
– Thế nhưng Đàm bà chưa hẳn đã “ngồi không nghiêng ngả, đứng chẳng vẹo xiêu”, còn Triệu Tiền Tôn chắc gì “chưa từng làm chuyện không hay không phải với bạn bè”.
Đàm công mặt liền đỏ ké, tiếp theo đổi thành xanh lè, trừng mày trợn mắt hầm hầm nhìn ông. Kiều Phong buông tay, vứt ông ta xuống đất, quay mình chạy đi. Đàm công không nói một lời lẽo đẽo chạy theo, hai người một trước một sau chạy ra khỏi thành Vệ Huy. Trên đường không ít giang hồ hào khách nhận ra Đàm công, ai nấy cung kính nhường đường cúi chào. Đàm công chỉ ậm ừ một tiếng rồi chạy vụt qua. Chẳng mấy chốc hai người đã đến bên chiếc thuyền gỗ.
Kiều Phong tung mình nhảy lên đầu thuyền, chỉ vào bên trong nói:
– Tự mình ông đến xem cho rõ.
Đàm công liền lên thuyền, nhìn vào trong khoang, thấy vợ mình và Triệu Tiền Tôn tựa vào nhau, nép ở một góc, giận không sao nhịn nổi, phát chưởng nhắm ngay đầu Triệu Tiền Tôn đánh tới, nghe bùng một tiếng. Triệu Tiền Tôn không động đậy, không trả đòn, cũng không né tránh.
Bàn tay Đàm công đụng vào đầu y rồi, thấy có điều không xong, vội vàng đưa tay sờ vào mặt vợ, thấy lạnh ngắt, thì ra Đàm bà đã chết từ bao giờ. Đàm công run bắn người nhưng chưa thoái chí, liền đưa tay thăm mũi bà ta nhưng cũng có còn chút hơi thở nào đâu? Ông ta ngơ ngẩn, đưa tay sờ trán Triệu Tiền Tôn thấy cũng lạnh như băng, bi phẫn khôn tả, hầm hầm nhìn Kiều Phong, mắt như muốn tóe lửa. Kiều Phong thấy đột nhiên cả Đàm bà lẫn Triệu Tiền Tôn đều chết, cũng thật lạ lùng vô cùng. Khi ông rời thuyền để vào thành chỉ điểm huyệt hai người, sao hai cao thủ lại chết một cách thật bất ngờ như thế?
Ông nhắc Triệu Tiền Tôn lên, xem qua không thấy trên người có vết thương nào cả, cũng không có vết máu, liền nắm ngay áo trên ngực y nghe soẹt một tiếng, cởi tung ra thấy một vết bầm thật lớn, hiển nhiên đã bị chưởng lực thật mạnh. Lạ lùng nhất là vết tay kẻ dùng trọng thủ giống hệt bàn tay ông.
Đàm công ôm Đàm bà lên, xoay lưng lại, cởi áo bà ta ra xem vết thương trên ngực thấy cũng y hệt Triệu Tiền Tôn. Ông ta muốn khóc nhưng không lấy đâu ra nước mắt, nghiến răng nói với Kiều Phong:
– Ngươi mặt người dạ thú, độc ác đến thế sao.
Kiều Phong trong lòng kinh ngạc, không biết phải nói sao chỉ nghĩ: “Không biết ai đã dùng trọng thủ đánh chết Đàm bà và Triệu Tiền Tôn? Kẻ hạ thủ công lực thâm hậu, không phải tầm thường, không lẽ cũng chính là kẻ đối đầu với mình hay sao? Thế nhưng làm sao y lại biết hai người này đang ở trên thuyền?”.
Đàm công đau lòng vì người vợ yêu chết thảm, vận kình vào hai cánh tay hết sức xông vào Kiều Phong. Kiều Phong tránh qua một bên chỉ nghe một tiếng lách cách thật lớn, chưởng lực của Đàm công đã đánh sạt một bên khoang. Kiều Phong liền vươn tay chộp lấy đầu vai ông ta nói:
– Đàm công, phu nhân của ông không phải do ta giết, ông tin hay không nào? Đàm công hỏi lại:
– Không phải ngươi thì còn ai bây giờ? Kiều Phong nói:
– Trong lúc này mạng ông ở trong tay ta, Kiều mỗ nếu như muốn giết thật dễ như trở bàn tay.
Đàm công nói:
– Ngươi chỉ vì muốn tra xét cho rõ kẻ giết cha ngươi là ai, Đàm mỗ tuy võ công không bằng ngươi thật nhưng đâu có để ngươi coi như thằng ngu?
Kiều Phong nói:
– Được rồi, ông nói tên kẻ thù giết cha cho ta nghe, ta sẽ đảm nhận trọng trách báo thù kẻ giết vợ cho ông.
Đàm công cười sặc sụa, cố sức vận kình ba lần muốn thoát khỏi bàn tay đối phương, thế nhưng bàn tay Kiều Phong chỉ nhẹ nhàng đè xuống tùy theo kình mà biến hóa, sức giãy giụa của Đàm công tuy mạnh thật nhưng đối phương cũng theo đó mà mạnh theo, trước sau vẫn không cách nào ra được. Đàm công đã quyết chí, bèn thè lưỡi để giữa hai hàm răng, cắn mạnh một cái cho đứt đầu lưỡi, mồm ngậm đầy máu phun thẳng vào mặt Kiều Phong. Kiều Phong vội vàng tránh qua một bên, Đàm công liều xông tới, giơ chân hất cái xác của Triệu Tiền Tôn qua một bên, hai tay ôm xác Đàm bà, đầu ngoẹo xuống, tắt thở chết ngay.
Kiều Phong thấy cái thảm trạng đó, trong lòng bồi hồi không khỏi có chút xót xa. Vợ chồng họ Đàm và Triệu Tiền Tôn tuy không phải chính tay ông giết, nhưng cũng vì ông mà chết. Nếu muốn hủy diệt thi thể, vết tích ông chỉ cầm dậm chân một cái, đạp vỡ đáy thuyền, chiếc thuyền sẽ chìm xuống đáy sông nhưng nghĩ lại: “Nếu ta dấu ba cái xác này đi chẳng hóa ra có tật giật mình hay sao? Như thế thì thanh danh vợ chồng họ Đàm và Triệu Tiền Tôn không khỏi bị bại hoại”. Ông đi ra khỏi khoang thuyền trở lên bờ định tìm xem có dấu chân hay manh mối gì chăng, nhưng không thấy gì cả.
Ông rảo bước chạy về khách điếm, A Châu vẫn đứng ngoài cửa trông chờ, thấy ông bình yên trở lại mừng rỡ ra mặt, nhưng thần tình bất định, biết ngay đuổi theo Triệu Tiền Tôn và Đàm bà chẳng được tích sự gì, hạ giọng hỏi nhỏ:
– Đại gia, thế nào rồi? Kiều Phong đáp:
– Chết hết!
A Châu hơi kinh ngạc nói:
– Cả Đàm bà lẫn Triệu Tiền Tôn? Kiều Phong đáp:
– Luôn cả Đàm công nữa, cả thảy ba người.
A Châu lại tưởng do tay ông giết, trong bụng tuy không yên nhưng không tiện buông lời trách cứ, bèn nói:
– Triệu Tiền Tôn có nhúng tay vào việc làm chết cha đại gia, có giết cũng… cũng không đến nỗi gì.
Kiều Phong lắc đầu:
– Không phải ta giết đâu. A Châu thở ra nói:
– Vậy thì tốt rồi. Tiểu nữ vẫn nghĩ rằng Đàm công, Đàm bà chưa từng làm gì đắc tội với đại gia có tha cũng được, thế nhưng ai giết thế?
Kiều Phong lắc đầu:
– Ta cũng không biết. Ông nói tiếp:
– Biết được tên của chính phạm cự ác kia bây giờ chỉ còn có ba người. Mình làm gì phải làm cho nhanh, đừng để kẻ kịch ra tay trước, việc gì mình cũng vào thế thượng phong.
A Châu đáp:
– Đúng thế, Mã phu nhân hận ông tận xương tủy, dù có cách nào cũng không chịu nói ra đâu. Huống chi dồn ép một quả phụ đâu phải là hành vi của một đại trượng phu. Còn chùa của Trí Quang hòa thượng ở tận Giang Nam, thôi mình đi tới Thái An đất Sơn Đông tìm nhà họ Đơn vậy.
Ánh mắt Kiều Phong tỏa ra một vẻ thương xót nói:
– A Châu, mấy hôm nay nàng quả là cực khổ. A Châu lớn tiếng gọi:
– Chủ quán đâu, mau tính tiền. Kiều Phong ngạc nhiên nói:
– Sáng mai tính tiền cũng chưa vội. A Châu đáp:
– Không nên, tối nay đi luôn suốt đêm, đừng để cho kẻ địch lần nào cũng nhanh chân một bước.
Kiều Phong trong lòng cảm kích, gật đầu. Trời tối hai người ra khỏi thành Vệ Huy, trên đường đã nghe người ta đồn xôn xao về chuyện tên ác ma Kiều Phong hạ độc thủ, giết chết vợ chồng Đàm công và Triệu Tiền Tôn. Quá nửa là ba người này đột nhiên mất tích, mọi người điều tra, tìm ra chiếc thuyền chìm. Những người đó khi nói chuyện, mắt lấm lét nhìn quanh, chỉ sợ Kiều Phong bất thần xuất hiện, có biết đâu ông ta ở ngay bên cạnh.
Hai người trên đường thay đổi ngựa, ngày đêm liên tục chạy thẳng về hướng đông. Đi khoảng hai ngày đường, tuy A Châu chẳng hề thở ra một chữ “mệt” nào nhưng mắt nhắm mắt mở ngồi trên yên, suýt ngã mấy lần. Kiều Phong thấy nàng không còn chịu nổi nữa, nên bỏ ngựa đi xe. Hai người ngồi trên xe ngủ được ba bốn giờ, thấy đã đủ lại bỏ xe đi ngựa, hết sức chạy. Cứ thế không ngừng, A Châu vui vẻ nói:
– Lần này nhất định “tên đại ác” kia không thể nhanh hơn mình được.
Cả nàng lẫn Kiều Phong đều không biết kẻ địch là ai, mỗi khi nhắc đến người đó đành gọi là “tên đại ác”. Thế nhưng Kiều Phong vẫn canh cánh lo, thấy “tên đại ác” này lần nào cũng nhanh hơn mình một bước, võ công y cũng không kém gì mình, cơ trí mưu lược lại còn hơn xa, huống chi tới giờ phút này mình vẫn như ở trong mây, chưa nhìn ra đường hướng gì còn mình làm gì kẻ địch đều biết rõ. Trong đời ông, chưa bao giờ gặp một đối thủ lợi hại như vậy. Có điều kẻ địch càng mạnh, ông vẫn hào khí ngất trời không chút e ngại gì cả.
Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính ở ngoài thành phía đông của Thái An, Sơn Đông, nơi đây ai cũng biết cả. Kiều Phong và A Châu đến Thái An thì trời đã về chiều, hỏi kỹ nhà họ Đơn rồi lập tức băng ngang thành đi tới. Ra khỏi cửa đông chừng một dặm bỗng thấy khói bốc mịt trời, xem ra có chỗ nào đang cháy rồi có tiếng thanh la đánh vang dậy, văng vẳng có tiếng người kêu:
– Xách nước mau lên! Xách nước mau lên! Mau cứu hỏa!
Kiều Phong cũng không để ý, cùng A Châu giục ngựa chạy càng lúc càng gần đám cháy. Chỉ nghe tiếng người la lối:
– Cứu hỏa mau, cứu hỏa mau, Thiết Diện Đơn gia đó!
Kiều Phong và A Châu hoảng hốt, cùng ghìm cương lại, đưa mắt nhìn nhau nghĩ thầm: “Không lẽ “tên đại ác” lại đi trước một bước?”. A Châu an ủi:
– Đơn Chính võ công cao cường, dẫu nhà có cháy cũng không đến nỗi chết ở trong đó.
Kiều Phong lắc đầu. Từ khi ông giết chết Đơn thị nhị hổ, kết oán với nhà họ Đơn cực kỳ sâu xa, lần này đến Thái An, tuy không có ý giết người nhưng biết chắc Đơn Chính và con cháu nhất định không bỏ qua, thể nào cũng một phen đại chiến. Ngờ đâu chưa đến được trang viện, đối phương đã bị hỏa tai, trong lòng không khỏi cảm thấy bùi ngùi.
Càng gần Đơn gia trang càng thấy nóng hắt vào mặt, ánh lửa bốc lên lem lém, quả là một đám cháy to. Khi đó dân chúng quanh vùng đã cùng chạy tới chữa lửa, kẻ thì tạt nước, người thì đổ cát. Cũng may chung quanh Đơn gia trang đều có hào sâu nên dân chúng lân cận không bị cháy lây.
Kiều Phong và A Châu chạy đến bên hỏa trường liền xuống ngựa đứng xem. Bỗng nghe một hán tử than thở:
– Đơn lão gia là người tử tế, ở đây cứu tế chẩn bần, mấy chục năm nay tích biết bao công đức, thế mà nhà cháy đã đành, toàn gia hơn ba chục người không một ai chạy được?
Một người khác đáp:
– Chắc là kẻ thù phóng hỏa, đóng chặt cửa không cho ai chạy ra. Nếu không phải thế, đến đứa trẻ lên năm trong nhà họ Đơn cũng biết võ, lẽ nào lại không chạy được?
Người lúc trước bèn nói:
– Nghe nói Đơn đại gia, Đơn nhị gia, Đơn ngũ gia ở Hà Nam bị một tên ác tặc là Kiều Phong giết hại, lần này đến đốt nhà, chẳng phải tên đại ác đó thì còn đứa nào?
A Châu và Kiều Phong khi nói chuyện nhắc tới kẻ đối đầu đã gán cho y cái tên “tên đại ác” lúc này lại nghe những người nhà quê cũng gọi mình là “tên đại ác” nên không khỏi đưa mắt nhìn nhau. Người tuổi trẻ hơn nói:
– Lẽ dĩ nhiên là Kiều Phong rồi.
Y nói đến đây chuyển sang thì thầm:
– Hẳn là y đưa một đám thủ hạ xông vào trang viện, giết sạch cả nhà họ Đơn không chừa con gà con chó. Ôi, trời xanh quả là không có mắt.
Người lớn tuổi hơn nói:
– Tên Kiều Phong kia tác ác đa đoan, mai sau thể nào chết thảm gấp trăm lần các vị đại gia nhà họ Đơn.
A Châu nghe bọn họ rủa Kiều Phong, trong bụng tức lắm, giơ tay vỗ vào cổ ngựa một cái, con ngựa giật mình, chân trái phóng ra, đá ngay vào mông gã kia. Gã đó kêu lên một tiếng, ngã sấp xuống. A Châu nói:
– Ngươi mồm miệng nói láo lếu gì thế?
Gã đó bị ngựa đá trúng, nghĩ đến thủ hạ “tên đại ác” kia hẳn là đông lắm, sợ đến mất vía không dám hó hé gì vội vàng lỉnh mất. Kiều Phong mỉm cười nhưng đầu mày cuối mắt có vài phần buồn bã, cùng A Châu chạy đến bên đám cháy. Họ nghe thấy mọi người xì xào bàn tán cùng một giọng, đều nói nhà họ Đơn già trẻ lớn bé hơn ba chục người không ai thoát chết. Kiều Phong ngửi thấy mùi xác người bị thiêu khét lẹt từ trong đám lửa bốc ra biết là những lời đó không sai, cả nhà Đơn Chính chết cháy cả.
A Châu khẽ nói:
– “Tên đại ác” này quả là độc địa, giết cha con Đơn Chính thì đã đành, sao lại phải giết toàn gia? Việc gì mà đốt luôn cả trang viện?
Kiều Phong hừ một tiếng nói:
– Cái đó gọi là nhổ cỏ nhổ tận rễ. Nếu là ta thì ta cũng đốt cả nhà. A Châu kinh hãi hỏi lại:
Kiều Phong đáp:
– Tối hôm đó ở trong rừng hạnh, Đơn Chính có nói mấy câu, chắc nàng cũng có nghe. Ông ta nói: “Trong nhà tôi còn giữ mấy phong thư của vị “đại ca thủ lĩnh”, đem ra so nét chữ quả đúng thật”.
A Châu thở dài:
– Đúng đó, y đã tính nếu giết Đơn Chính vẫn e ngại đại gia vào trong Đơn gia trang kiếm ra được mấy phong thư đó thì có thể biết được tính danh của người này. Một bó lửa đốt cháy rụi Đơn gia trang thì chẳng thư tín nào còn lưu lại được nữa.
Khi đó người đến chữa lửa mỗi lúc một đông nhưng hỏa thế đang lớn, từng thùng từng thùng nước dội vào, chỉ khoảnh khắc đã thành hơi nước bốc đi đâu có dập tắt được. Từng đợt lửa và hơi nóng bốc ra thổi dạt mọi người lùi lại. Đám đông một mặt thở than, một mặt chửi rủa Kiều Phong, dân nhà quê ăn nói thô tục thật là khó nghe.
A Châu sợ Kiều Phong nghe những lời nhục mạ vô lý đó, cơn thịnh nộ nổi lên lại mở một trường sát giới thì thật là thê thảm cho đám dân đen nên len lén nhìn ông, thấy mặt ông cực kỳ quái dị, dường như thương tâm mà cũng dường như ăn năn nhưng xem chừng thương xót nhiều hơn, tưởng chừng biết rằng đám dân quê ngu dốt không đáng giết. Chỉ nghe ông thở dài một tiếng, thản nhiên nói:
– Thôi mình đi Thiên Thai Sơn.
Ông đề cập đến núi Thiên Thai âu cũng là chuyện chẳng đừng. Trí Quang đại sư tuy năm xưa có tham gia chiến dịch giết hại cha mẹ ông nhưng về sau đại phát tâm nguyện đi đến những vùng đất xa lạ lấy các loại vỏ cây đem về làm thuốc chữa trị cho dân chúng hai vùng Chiết Mân Lưỡng Quảng bị chướng khí sốt rét, cứu sống vô số người, chính ông vì thế mà nhiễm trọng bệnh khi khỏi rồi võ công mất sạch. Hành động tế thế cứu nhân đó trên giang hồ ai ai cũng kính phục, nhắc đến Trí Quang đại sư đều gọi là “Vạn Gia Sinh Phật”, Kiều Phong không vì bất đắc dĩ thì không bao giờ đến gây chuyện với ông ta.
Hai người rời Thái An tìm đường đi xuống phía nam. Lần này Kiều Phong không cố gắng chạy thục mạng, cùng A Châu bàn bạc, nhẩn nha mà đi, không chừng lại bảo tồn được tính mạng Trí Quang đại sư, còn như hết sức chạy cho nhanh, khi đến núi Thiên Thai lại chỉ thấy xác ông nằm đó mà thôi, cả cái miếu ông đang trụ trì có khi cũng bị đốt thành tro rồi. Huống chí Trí Quang ngao du vô định, vân du bốn biển chắc gì đang ở tại Thiên Thai Sơn.
Núi Thiên Thai ở Chiết Đông, hai người từ Thái An xuôi nam, lần này đi thong thả, chẳng khác gì du sơn ngoạn thủy, Kiều Phong và A Châu đàm luận những chuyện lạ trên giang hồ, nếu trong bụng không khắc khoải thì quả là một chuyến du hành kỳ thú.
Hôm đó đi đến Trấn Giang, hai người lên chùa Kim Sơn thưởng lãm phong cảnh. Kiều Phong nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy mãi về hướng đông, bỗng chợt nghĩ ra một việc nói:
– Không chừng gã “đại ca thủ lĩnh” và “tên đại ác” là một. A Châu đập tay nói:
– Đúng rồi, vậy mà sao mình không nghĩ tới chuyện đó nhỉ? Kiều Phong nói:
– Cũng có thể đây là hai người nhưng nhất định họ phải có liên hệ với nhau thật mật thiết, nếu không “tên đại ác” không thể nào dùng trăm phương nghìn kế để che đậy thân phận cho tên “đại ca thủ lĩnh”. Thế nhưng đến những người như Uông bang chủ cũng còn đi theo thì tên “đại ca thủ lĩnh” kia phải là một nhân vật ghê gớm lắm, cả “tên đại ác” cũng phải như vậy. Trên đời này làm gì có được hai cao nhân mà ta lại không biết được một? Cứ như thế mà suy ra, hai người này phần lớn cũng là một người mà thôi. Chỉ cần giết được “tên đại ác” là coi như ta đã trả xong mối thù giết cha giết mẹ rồi.
A Châu gật đầu khen phải, nói tiếp:
– Kiều đại gia, đêm hôm đó nơi rừng hạnh người ta kể lại chuyện ngày xưa, chỉ sợ… chỉ sợ…
Nàng nói giọng hơi run run. Kiều Phong tiếp lời:
– Chỉ sợ “tên đại ác” cũng có mặt trong khu rừng hạnh chứ gì? A Châu run run đáp:
– Đúng vậy. Hôm ở khu rừng hạnh Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính nói là trong nhà ông ta có giữ mấy lá thư của “đại ca thủ lĩnh” thành ra toàn gia mới bị đốt cháy rụi… Ôi, tiểu nữ nghĩ lại chuyện này sao ớn quá.
Nàng hơi run, nép vào một bên Kiều Phong. Kiều Phong nói:
– Người này tâm tính độc ác, trên đời khó gặp. Triệu Tiền Tôn thà chịu thân bại danh liệt, không chịu thổ lộ chân tướng của y, vị tất là vì nghĩa khí, nói không chừng là sợ hắn dùng thủ đoạn tàn độc để trả thù. Đơn Chính cũng giao hảo với y, vậy mà y vẫn đang tâm hạ độc thủ cả hai người. Đêm đó nơi rừng hạnh, làm gì có nhân vật nào lợi hại đến thế?
Ông suy nghĩ một chút nói tiếp:
– Còn một chuyện nữa mà ta nghĩ cũng thấy lạ. A Châu hỏi:
– Chuyện gì thế?
Kiều Phong nhìn chiếc thuyền buồm trên sông nói:
– “Tên đại ác” thông minh mưu trí chỗ nào cũng hơn ta một bực, nói đến võ công, xem ra cũng chẳng kém gì ta. Nếu y muốn lấy mạng ta, e rằng cũng không lấy gì là khó. Thế sao y lại còn sợ ta biết được kẻ thù là ai?
A Châu nói:
– Kiều đại gia, đại gia cũng đừng có quá khiêm tốn. “Tên đại ác” kia tuy võ công cao siêu thật, nhưng thực ra sợ đại gia đòi mạng. Tiểu nữ đoán rằng mấy ngày nay y trong lòng nơm nớp, sợ đại gia biết được y là ai đến báo thù. Nếu không y việc gì phải giết ông bà Kiều lão, rồi đến Huyền Khổ đại sư, Triệu Tiền Tôn, Đàm bà và toàn gia Thiết Diện Phán Quan nữa. Đàm công cũng có thể nói là do hắn hại.
Kiều Phong gật đầu nói:
– Có lẽ là như thế.
Ông quay sang mỉm cười nhìn nàng nói:
– Thế nhưng nếu y không dám đến hại ta, cũng chẳng dám đến gần nàng nữa, nàng đừng sợ.
Một lát sau ông thở dài:
– Gã này tính toán quả là ghê gớm. Kiều mỗ thật uổng xưng mình là anh hùng, bị người ta đùa dỡn ngay trên đầu mà chẳng làm gì được ai!
Sau khi qua khỏi Trường Giang, chẳng mấy chốc đã vượt sông Tiền Đường, đến huyện Thiên đài. Kiều Phong và A Châu nghỉ lại một đêm ở khách điếm. Sáng hôm sau vừa trở dậy, đang định hỏi thăm đường lên núi Thiên Thai thì người chưởng quỹ lật đật tiến vào nói:
– Kiều đại gia, có một vị sư phụ ở Chỉ Quán thiền tự trên núi Thiên Thai xin được bái kiến.
Kiều Phong kinh hãi vì khi ông thuê phòng đã thuận miệng nói mình họ Quan, bèn hỏi lại:
– Sao ngươi lại gọi ta Kiều đại gia là sao? Gã chưởng quỹ đáp:
– Sư phụ chùa Chỉ Quán tả hình dáng Kiều đại gia không sai chút nào.
Kiều Phong và A Châu đưa mắt nhìn nhau đều cảm thấy hơi khác lạ, hai người vốn đã hóa trang, không hoàn toàn giống như khi ở Thái An Sơn Đông vậy mà khi tới Thiên Thai đã bị người ta nhận ra ngay. Kiều Phong nói:
– Thôi được, mời ông ta vào đây.
Chưởng quỹ quay mình đi ra, chẳng bao lâu đưa vào một nhà sư lùn mập tuổi chừng ba mươi. Nhà sư đó chắp tay chào Kiều Phong nói:
– Gia sư thượng Trí hạ Quang sai tiểu tăng là Phác Giả đến mời Kiều đại gia và Nguyễn cô nương đến viếng tệ tự.
Kiều Phong thấy đến A Châu họ Nguyễn y cũng biết lại càng ngạc nhiên hỏi lại:
– Không hiểu tại sao sư phụ lại biết được họ của tại hạ? Nhà sư Phác Giả đáp:
– Gia sư có dặn rằng ở tại khách điếm Khuynh Cái huyện Thiên Thai có một vị Kiều anh hùng và một vị Nguyễn cô nương nên sai tiểu tăng đến đón lên núi. Đây là Kiều đại gia, không biết Nguyễn cô nương đang ở đâu?
A Châu cải trang thành một người đàn ông trung niên nên hòa thượng Phác Giả không nhìn ra lại tưởng Nguyễn cô nương không có ở đây. Kiều Phong lại hỏi:
– Tối hôm qua chúng tôi mới đến đây, làm sao tôn sư lại biết được? Không lẽ tôn sư có tài tiên tri hay sao?
Phác Giả chưa kịp đáp gã chưởng quỹ đã xen vào:
– Lão thần tăng ở Chỉ Quán thiền tự thần thông quảng đại, chỉ bấm ngón tay là biết được Kiều đại gia sắp đến. Chẳng nói gì việc một hai ngày sau mà đến năm trăm nữa việc gì lão nhân gia cũng mười phần biết được sáu bảy.
Phác Giả hòa thượng lại nói:
– Đó không phải là do sư phụ ta biết trước. Sư phụ ta nhận được tin tức, biết hai vị muốn quang lâm tệ tự, lệnh chi tiểu tăng đến nghênh tiếp, đã đi tới vài lần, đi qua mấy nhà khách điếm tuần tra.
Kiều Phong biết là Trí Quang đại sư tiếng tăm rất vang dội, dân chúng ngu dốt coi ông như thần thánh nên không muốn nhiều lời nói:
– Thôi để Nguyễn cô nương đi sau cũng được, xin ông đưa hai người chúng tôi lên bái kiến tôn sư trước.
Nhà sư Phác Giả nói:
Kiều Phong đang toan trả tiền ăn ở gã chưởng quỹ liền nói:
– Đại gia là khách của lão thần tăng ở Chỉ Quán thiền tự đến ở đây, chúng tôi thật là vinh hạnh, vài đồng tiền thuê phòng ăn cơm quả tình không dám nhận. Kiều Phong nói:
– Như vậy thì xin cám ơn.
Ông nghĩ thầm: “Trí Quang thiền sư thi ân bố đức cho dân chúng, cái mối thù ông ta làm hại cha mẹ mình ta không tính toán tới, chỉ mong ông ta thổ lộ “đại ca thủ lĩnh” và “tên đại ác” là ai cũng đủ cho ta mãn nguyện rồi. Dù ông ấy không chịu nói, ta cũng quyết không bắt ép”. Ông lập tức cùng Phác Giả ra khỏi huyện thành đi về hướng núi Thiên Thai.
Núi Thiên Thai phong cảnh thanh u nhưng đường lên núi cheo leo hiểm trở hơi khó đi. Tương truyền Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời Hán lạc vào núi này gặp tiên đủ biết phong cảnh phải đẹp đẽ là chừng nào, đường lên núi cong queo như rắn bò thật khó mà nhận ra được. Kiều Phong theo sau nhà sư Phác Giả thấy y cước lực thật cứng cỏi nhưng rõ ràng không phải là người biết võ công, nhưng không phải vì thế mà ông không dè chừng, nghĩ thầm: “Đối phương đã biết ta lẽ nào mình lại không phòng bị hơn nữa? Trí Quang thiền sư tuy là bậc cao tăng hữu đức thật, nhưng những người khác có chắc đâu bụng dạ cũng như ông ta”.
Đi qua một đoạn sơn đạo, chuyển qua một cái khe núi, một con đường nhỏ chạy thẳng lên đỉnh núi, phía dưới vách núi bên phải có một tòa lương đình, bên trong lương đình chỉ có một cái vại gốm lớn, trên có một ống trúc lấy nước ra, như để cấp nước cho người lữ hành nghỉ ngơi uống nước. Kiều Phong thấy A Châu có vẻ mệt mỏi, liền nói:
– Chúng ta đến lương đình nghỉ ngơi một chút. A Châu nói:
Rồi theo ông đi đến lương đình. Phác Giả hòa thượng đi theo đến gần nói:
– Nếu hai vị khát nước, có thể uống chút trà.
Kiều Phong cầm lấy ấm trà, thấy trong vại gốm có màu hơi đỏ, quá nửa là trà thô, liền múc một ấm, đưa cho A Châu. A Châu nhận ấm trà, uống một ngụm. Chỉ thấy trên đường có năm người bước nhanh lên núi, tay áo phất phơ, hành động nhanh thoăn thoắt.
Kiều Phong vừa nhìn thấy, liền chú ý quan sát. Năm người này tuổi không phải thấp, nhưng bước đi như bay, tất cả đều mặc áo bào tro, đầu đội mũ bằng vải bông màu xám, đi vào lương đình. Năm người ôm quyền hành lễ, cùng nói:
– Đại gia mạnh khỏe, cô nương mạnh khỏe!
Lúc này A Châu chưa sửa trang phục, nghe năm người gọi nàng là cô nương, Kiều Phong và A Châu đều tăng phòng cảnh giác, hai người hoàn lễ nói:
– Các vị mạnh khỏe, nơi này có nước trà, mời dùng để uống nghỉ ngơi. Một người nói:
Kiều Phong nghe bọn họ nói chuyện khẩu âm phương bắc, thấy năm người đều trên dưới sáu mươi tuổi, phần lớn lông mày đều đã trắng, ba người để râu cũng đã trắng. Kiều Phong nghĩ thầm: “Năm người này võ công thực sự cao cường, không biết lai lịch thế nào?”. Ông đến bên A Châu, ngồi cạnh nàng trên một chiếc ghế gỗ dài. Thấy năm người này vẻ mặt điềm đạm, không có ý thù địch, cũng hơi yên tâm.
Năm người phân chia uống trà xong ngồi xuống. Một lão già chắp tay nói:
– Tại hạ họ Đỗ, là người Hoài Bắc, bốn người này đều là sư đệ của tại hạ. Người này họ Trì, người này họ Kim, người này họ Chử, người này họ Tôn.
Bốn người nghe đến mình đều đứng lên ôm quyền hành lễ. Kiều Phong ôm quyền đáp lễ. A Châu thấy bọn họ đều lớn tuổi, kính trọng các vị trưởng bối, khi hoàn lễ thì khom người, có phần cung kính. Lão già họ Đỗ cười hì hì nói:
– Mọi người đều là người đi đường xa, tiểu cô nương không cần khách khí như vậy.
A Châu nói:
– Đỗ gia gia, người đáng tuổi ông nội của tiểu nữ, tiểu nữ tự nhiên phải cung kính.
Nàng nói bằng giọng nữ, không hề giả bộ giọng nam nhân. Lão già họ Đỗ cười lên ha hả, vươn tay ra làm tư thế như vuốt tóc nàng. Kiều Phong thấy lão vẫy tay trên không như vậy, thần thái hiền hòa, nhưng tư thế vững vàng dị thường, chỉ sợ mấy trăm cân lực đạo cũng không thể lay động bàn tay lão, tựa như bao hàm mấy chục năm công lực, thật không phải là ít, cảm thấy kinh hãi nói:
– Được bất ngờ gặp năm vị cao nhân ở Chiết Đông, phúc phận của Kiều Phong quả không phải nhỏ.
Lão già họ Đỗ nói:
– Kiều đại gia, chúng ta vẫn muốn gặp ông, theo từ Vệ Huy Hà Nam đến Thái An Đơn gia trang ở Sơn Đông, lại cùng đến Chiết Giang, may mắn được gặp ở đây. Vừa đến thấy ông muốn đi lên thăm chùa, chúng ta không đợi được, liền lỗ mãng lên đây để gặp.
Kiều Phong vội nói:
– Đâu có, đâu có. Kiều mỗ không biết năm vị cao nhân ở phía sau, nếu không đã sớm trở lại bái kiến.
Nghĩ rằng bọn họ đi theo từ Vệ Huy tới, đã có chuẩn bị, xem cử chỉ năm người này đúng là những đại kình địch, chỉ sợ ở lương đình xảy ra một hồi ác chiến, muốn chiếu cố cho A Châu cô nương cũng không phải dễ. Lão già họ Đỗ lại nói tiếp:
– Thật là bản sắc đại anh hùng. Kiều đại gia, ông tự báo danh tính thật, làm việc quang minh lỗi lạc, dụng ý của chúng ta, tất cũng không giấu diếm. Trí Quang thiền sư là đức cao tăng, năm sư huynh đệ ta đến đây là xin ông đừng đả thương đại sư.
Kiều Phong nói:
– Năm vị lão tiên sinh nói quá lời. Năm vị nếu đồng thời xuất thủ thì lấy ngay được tính mạng Kiều Phong này, làm gì phải nói đến chữ “xin”. Kiều Phong đi cầu kiến Trí Quang đại sư, chính là muốn thỉnh lão nhân gia chỉ điểm con đường lầm lỗi. Bất luận thiền sư có nói hay không, tại hạ kính lễ mà đến, kính lễ mà đi, không dám là tổn thương thiền sư.
Lão già họ Đỗ nói:
– Kiều đại gia trượng phu nhất ngôn, khoái mã nhất tiên. Nếu như ông đã nói thế, năm huynh đệ ta tự nhiên tin được. Tại hạ có một lời riêng muốn nói, đó là lời tâm huyết, chúng ta hôm nay gặp mặt lần đầu, không khỏi có vẻ thân thiết với người sơ giao, nói thẳng xin đừng trách.
Kiều Phong nói:
– Đỗ lão tiên sinh cứ nói. Lão già họ Đỗ nói:
– Đàm công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn, Từ trưởng lão Cái Bang, cha con Đơn Chính, mọi người chỉ vì không nói ra danh tính của “đại ca thủ lĩnh” nên đến nỗi chết. Trên giang hồ không rõ chân tướng, đều nói là Kiều đại gia đã hạ thủ…
Kiều Phong nói:
– Những người này không một ai do ta giết. Vợ chồng Đàm công cùng Triệu Tiền Tôn không chịu nói ra “đại ca thủ lĩnh”, tại hạ quả thật là có chút bức bách, nhưng bọn họ thà chết chứ không chịu khuất phục, không chịu bán đứng bằng hữu, thật là hành vi của hảo hán, tại hạ trong lòng rất bội phục, quyết không lấy
tính mạng của bọn họ. Rốt cuộc là ai đã hạ thủ, tại hạ đang muốn điều tra ra manh mối. Kiều Phong nếu chưa làm rõ kì oan, trên giang hồ đều đổ oan cho ta giết cha, giết mẹ, giết thầy, kì thật ba vị lão nhân gia thân thiết với ta từ nhỏ, đại ân ta chưa báo đáp, lẽ nào lại có thể một tay giết chết bọn họ…
Nói đến đây giọng nói đã có chút nghẹn ở họng. Lão già họ Đỗ nói:
– Năm huynh đệ chúng ta tới đây, không dám nói có thể bức ép ngăn cản Kiều đại gia đả thương Trí Quang đại sư, nhưng thành thật muốn cùng Kiều đại gia nói rõ chân tướng sự việc. Vị “đại ca thủ lĩnh” nói vì y mà trên giang hồ đã có nhiều vị bằng hữu bị uổng mạng, y tự thấy chướng nghiệp nặng nề. Trận chiến ở Tụ Hiền Trang tổn thương quá nhiều người. “Đại ca thủ lĩnh” nói: Năm đó sự việc ở ngoài Nhạn Môn Quan y mang tội rất lớn, đã sớm coi thường tính mạng mình để tạ tội, nếu Kiều đại gia đi tìm y báo thù, y quyết ưỡn ngực chịu đòn, quyết không trốn tránh.
Kiều Phong nghe càng thấy kì lạ, nói:
– Làm gì có chuyện này? Lão tiên sinh là nghe chính miệng “đại ca thủ lĩnh” nói ra hay chỉ là người ngoài chuyển lời?
Lão già họ Đỗ nói:
– Trăm nghìn là thật, “đại ca thủ lĩnh” kia chính xác là có ý này. Lão hữu ở trên giang hồ cũng có chút oai danh, bốn vị đệ tử của lão cũng không phải là hạng người vô danh, chúng ta năm người nói ra như núi, hiện tại chưa thể tiết lộ danh tính thật, Kiều đại gia sau này sẽ biết.
Kiều Phong nói:
– Vậy thì xin hỏi vị “đại ca thủ lĩnh” kia là ai? Lão già họ Đỗ lắc đầu nói:
– Võ công lão phu còn xa mới bằng Kiều đại gia, nhưng vẫn muốn bêu cái kém cỏi của mình, muốn cùng ông đấu một chưởng, bất quá để cho ông biết, bọn ta năm sư huynh đệ quyết không phải nói bậy.
Nói xong đứng sang một bên, khách khí nói:
– Kiều đại gi, tại hạ lĩnh giáo một chiêu chưởng pháp cao minh của ông.
Kiều Phong nghe lão nói rõ chỉ đấu một chưởng, tựa hồ chỉ dùng võ công để thể hiện thân phận, nói:
– Năm vị là cao nhân tiền bối, tại hạ vừa nhìn đã thấy rõ. Lời nói của năm vị, tại hạ cũng không dám không tin. Nếu năm vị muốn xuất thủ chỉ giáo, Kiều Phong võ công thấp kém, chỉ xin các vị thủ hạ lưu tình.
Lão già họ Đỗ cười ha ha, nói:
– Kiều bang chủ uy chấn thiên hạ võ công thấp kém thì trên đời còn có người nào võ công cao cường? Xin mời phát chiêu.
Nói xong khuỵu gối, xoay người, hữu chưởng chậm rãi đẩy đến. Kiều Phong thấy chưởng đến cũng không cương mãnh, tay trái xoay vòng, tay phải sử chiêu Kháng Long Hữu Hối, một chưởng này có phát có thu, mang theo nội lực rất lớn. Song chưởng chạm nhau, nghe cách một tiếng nhỏ, Kiều Phong chỉ cảm thấy chưởng lực đối phương chậm rãi mà đến, dồi dào bất tận, ông chiêu này cũng là nội lực tích tụ rất lớn. Hai người chưởng lực vừa chạm nhau, lập tức thu về, khâm phục lẫn nhau, cùng nói:
– Bội phục, bội phục!
Ba lão già từng người đứng lên, lần lượt nói:
– Tại hạ lĩnh giáo một chưởng, không thể bỏ lỡ cơ hội lĩnh giáo thiên hạ đệ nhất chưởng.
Kiều Phong cùng ba lão già nhất nhất đối chưởng, cảm thấy thất kinh, chưởng lực bốn lão già mỗi người đều khác nhau, lại đều là chưởng pháp cao minh của phái Thiếu Lâm, chỉ cần một chưởng, đã tỏ ra là cao thủ hàng đầu đương thời, nguyên bọn họ đều là cao thủ phái Thiếu Lâm. Kiều Phong đấu bốn chưởng, không chưởng nào chiếm được tiện nghi, cũng không chưởng nào bị kém hơn. Ông trán không toát mồ hôi, xương không kêu ra tiếng, nhẹ nhàng cùng bốn lão già đối chưởng, trong chưởng lực không có chút khí phách mãnh liệt, có vẻ cử trọng nhược khinh, hành
lực có thừa ra. Ông muốn lưu lại chút nội lực để mà đối phó với lão già thứ năm hiển nhiên là công lực mạnh nhất, lão già họ Trì.
Năm lão già cùng đứng lên nói:
– Nhân xưng Bắc Kiều Phong võ công đệ nhất đương thời, hôm nay lĩnh giáo, quả là danh bất hư truyền, bái phục vô cùng!
Kiều Phong khom lưng nói:
– Năm vị trưởng giả nói quá lời. Nay đến chỉ giáo, hậu ý sâu đậm, suốt đời không quên.
Lão già họ Trì nói:
– Kiều đại gia, mời người chỉ giáo.
Song chưởng chia ra thành một vòng, đồng thời đẩy đi. Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng của Kiều Phong là do tiền nhiêm bang chủ Cái Bang Uông Kiếm Thông truyền lại. Nhưng Kiều Phong sinh ra khác thường, với võ công lại được trời ưu ái, Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng của ông như bẻ cây nghiền gỗ, không vật gì không phá được, so với Uông bang chủ còn có phần hơn. Kiều Phong thấy đối phương song chưởng đẩy ra, mình nếu như lấy đơn chưởng chống đỡ, nếu liều mạng mà được hòa, chính mình tựa hồ chiếm phần thượng phong, không khỏi có chút thất kính, vì thế song chưởng đều đẩy ra. Ông song chưởng đều vận chưởng lực, nhưng đều là bên trong bảy phần bên ngoài ba phần, đem đại bộ phận chưởng lực giữ lại chứ không phát.
Bốn chưởng giao nhau, Kiều Phong đột nhiên thấy chưởng lực đối phương bỗng nhiên biến mất, trong phút chốc chẳng biết đi đâu, không khỏi chấn động. Song chưởng của ông đẩy đi tuy chỉ là ba thành nhưng cũng là bài sơn đảo hải, thế không thể chống đỡ, nhưng lại không thấy chưởng lực đối phương chắn lại, chính mình chưởng lực đánh tới, đối phương không khỏi xương sườn gãy nát, tâm phế vỡ vụn. Kinh hoàng thu chưởng lực về, trong lòng biết đó là nguy hiểm vạn lần, đối thủ lần này dụ chiêu như thế, chính mình thu chưởng lực về, nếu nhân cơ hội dồn mạnh chưởng lực đánh tới, hai luồng chưởng lực hợp lại cùng phát, mình mặc dù chưởng lực có thừa, cũng không khỏi trọng thương, chỉ một thoáng trong lòng hiện lên ý nghĩ: “Ta đây mà chết, A Châu cô nương sẽ không có người chiếu cố”, không khỏi lộ vẻ sầu thảm. Biết đối phương đã thu lại chưởng, lão già họ Trì cấp tốc thu chưởng về, lùi ra phía sau mấy bước, khom lưng cung kính nói:
– Đa tạ Kiều bang chủ đại nhân đại nghĩa, giúp lão hiểu được Nhất Không Đáo Để của Bát Nhã Chưởng.
Bốn lão già cùng hướng về lão già họ Trì nói:
– Chúc mừng ngộ thành thần công!
Kiều Phong mồ hôi trán ròng ròng chảy xuống, có thể nói vừa mới tìm được đường sống trong chỗ chết, lúc này cùng A Châu thật là tái thế tương phùng, trong lòng kích động, nhịn không được, đi qua nắm lấy tay A Châu. Lão già họ Trì hướng sang A Châu nói:
– A Châu cô nương, vừa rồi ta cùng Kiều đại gia đối chưởng, ta sử Bát Nhã Chưởng, là công phu chưởng pháp tối cao của Phật môn. Bát Nhã Chưởng Phật hiệu xem trọng sự trống không, sử đến chiêu cuối cùng Nhất Không Đáo Để là lúc vùa không phải trống không, cũng vừa không phải không trống không, chưởng lực hóa thành vô hình, vô sắc, không còn ý nghĩ trong đầu, sắc tức là không, âm thanh hương vị xúc cảm cũng là không, chưởng lực là không, không tức là chưởng lực. Trong quá khứ lão không được gặp may, xuất chưởng là lúc trong lòng luôn bị ứ đọng, có thể chính mình chưởng lực là không, nhưng lực đạo đối phương lại không phải là không. Lần này cùng Kiều đại gia đối chưởng, cao thủ như thế hiện nay hiếm thấy, lão không thể bỏ qua cơ duyên này, liền sử Nhất Không Đáo Để. Vạn lần không thể ngờ Kiều đại gia đại nhân đại nghĩa, chưởng vừa chạm thấy lão vô lực, cũng trong phút chốc thu chưởng của mình về, liều mạng để lão dụ chiêu phát lực đánh lại chính mình. Đột nhiên lúc đó lão hiểu được, chính ta là không, đối thủ cũng là không, đây mới chính là Nhất Không Đáo Để. Nếu như không
có một vị anh hùng nhân nghĩa không để ý tới tính mạng mình, không chịu tùy tiện đả thương người, chiêu này liệu có thể ngộ thành?
Kiều Phong đang lúc mơ hồ chợt tỉnh ngộ: “Nếu ông ta không phải cam tâm để cho ta đánh chết, mà ta không phải cam tâm mạo hiểm chịu chưởng của lão, nhất định chiêu này không thể ngộ thành. Ta cùng ông ta đều không quen biết nhau, vì cái gì mà lại cam tâm mạo hiểm như thế? Chỉ vì lão tin tưởng ta không phải loại tiểu nhân vô sỉ, ta cũng biết lão là quân tử cao thượng”. Người học võ cao minh, dựa vào võ công bên trong có thể đoán biết nhân cách bên ngoài, giống như người học văn có thể dựa vào văn tự mà đoán biết nhân phẩm đối phương. Kiều Phong cùng bốn lão già lần lượt đối chưởng xong, đã biết đối phương chẳng những võ công cao cường, mà nhân phẩm lại cao thượng, cái gọi là “Khuynh cái như cố”, theo một cách nhìn là đem cả tính mạng mình giao cho đối phương.
Lão già họ Đỗ nói:
– Kiều đại gia, ông cùng năm người chúng ta đối chưởng xong, đã thành sinh tử chi giao. Lão chỉ muốn nói với ông một câu: Trí Quang thiền sư năm đó tham dự sát hại lệnh tôn lệnh đường, chính là bị người ta lừa dối, quyết không phải là chủ tâm, ông ấy cũng đã mười phần hối hận, hi vọng ông thủ hạ lưu tình.
Kiều Phong nói:
– Kiều Phong có duyên được cùng năm vị cao nhân kết giao, thật là bình sinh rất may mắn. Tại hạ quyết không động đến một ngón tay của Trí Quang đại sư. Đa tạ đã chỉ giáo.
Lập tức cùng A Châu lau hết những vết hóa trang trên mặt, trở lại tướng mạo sẵn có. Phác Giả hòa thượng thấy hai người thay đổi tướng mạo, thấy A Châu biến thành nữ nhân, hết sức kinh ngạc. Năm lão già đứng dậy ôm quyền nói:
– Từ biệt tại đây, sau này còn gặp lại. A Châu nói:
– Năm vị gia gia bảo trọng. Lão già họ Đỗ nói:
– Cô nương cũng bảo trọng.
Năm người đi ra khỏi lương đình, nhằm đường cũ mà đi. Đi được một đoạn, liền quay đầu lại nhìn Kiều Phong và A Châu một cái, A Châu không ngừng vẫy tay chào bọn họ cho đến khi năm người đi qua khe núi, không còn thấy bóng dáng nữa. A Châu nhẹ nhàng hỏi:
– Kiều đại gia, vừa rồi đại gia nắm tay tiểu nữ, vì sao mà lại run run? Kiều Phong thấy xấu hổ, nói:
– Vừa rồi suýt nữa ta bị lão già họ Trì kia đánh chết. Ta nghĩ đến cô nương lẻ loi ở lại trên đời, không có ai chiếu cố, trong lòng đau khổ…
Khuôn mặt A Châu tươi như hoa mới nở, nghiêng đầu lại, ngẩng mặt lên hỏi:
– Đại gia… đại gia có phải có chút luyến tiếc tiểu nữ?
Kiều Phong chỉ cảm thấy khó mà trả lời, cười lắc đầu không nói. A Châu cũng thấy những lời này có phần ý tứ nũng nịu, thấy Phác Giả hòa thượng ở bên, đỏ mặt lên không dám hỏi lại.
Phác Giả hòa thượng đi trước dẫn đường, ba người đi theo sơn đạo, đi được mười dặm thì đã đến ngoài chùa. Các tự viện trong núi Thiên Thai có chùa Quốc Thanh thiên hạ đều biết tiếng, cao tăng đời Tùy Trí Khải đại sư đã từng tu tại đây phát triển Thiên Thai Tông trở thành một trọng địa của Phật môn suốt mấy trăm năm qua. Tuy nhiên trong võ lâm thì chùa Chỉ Quán lại lừng danh hơn. Kiều Phong vừa thấy hóa ra đây chỉ là một cái miếu nhỏ thật tầm thường, bên ngoài tường vách loang lở, nếu không có nhà sư Phác Giả đưa tới, Kiều Phong và A Châu chắc không thể nào tin nổi đây là ngôi chùa Chỉ Quán tiếng tăm lừng lẫy.
Phác Giả hòa thượng đẩy cửa miếu lớn tiếng nói:
– Sư phụ, Kiều đại gia đã đến rồi đây. Có tiếng Trí Quang đại sư vọng ra:
– Quý khách từ xa đến mà lão nạp không kịp nghênh tiếp.
Nói xong bước ra ngoài cửa, chắp tay hành lễ. Kiều Phong trước khi gặp lại Trí Quang vẫn canh cánh lo sợ “tên đại ác” sẽ giết ông ta chặn trước, đến bây giờ thấy mặt mới yên tâm, vái một cái thật sâu nói:
– Làm rộn việc thanh tu của đại sư, trong lòng không an chút nào. Trí Quang nói:
– Thiện tai, thiện tai! Kiều thí chủ, ông vốn là họ Tiêu, tự mình đã biết hay chưa?
Kiều Phong thân hình run rẩy, tuy ông biết mình dòng giống Khất Đan nhưng phụ thân họ gì đến lúc này vẫn mù tịt, bây giờ mới nghe Trí Quang đại sư bảo mình họ Tiêu, tự nhiên lưng đổ mồ hôi lạnh, biết rằng thân thế chân tướng mình từ từ lộ ra, lập tức khom lưng nói:
– Tiểu khả bất hiếu, chính là đến đây để mong đại sư chỉ điểm. Trí Quang gật đầu nói:
– Mời hai vị ngồi.
Ba người ngồi xuống ghế rồi, Phác Giả liền đem trà lên. Trí Quang nói tiếp:
– Tại thạch bích ngoài Nhạn Môn Quan lệnh tôn lưu lại tự tích, tự xưng họ Tiêu, tên là Viễn Sơn. Trong di văn gọi ông là Phong nhi nên bọn ta giữ nguyên tên đó, chỉ vì gửi Kiều Tam Hòe nuôi dưỡng nên theo họ của y.
Kiều Phong nước mắt ròng ròng, đứng bật dậy nói:
– Tại hạ cho đến tận hôm nay mới biết tên họ thực của phụ thân đều do ân đức của đại sư, vậy xin nhận một lạy này của tại hạ.
Nói xong ông liền phục xuống lạy. A Châu cũng đứng lên. Trí Quang chắp tay đáp lễ nói:
– Hai chữ ân đức nào có xứng đáng.
Quốc tính nước Liêu là Gia Luật, còn hoàng hậu từ xưa đến nay vẫn là họ Tiêu. Họ Tiêu đời đời là họ của hoàng hậu nên công khanh đầy triều, ở nước Liêu rất là quyền thế. Có khi Liêu chúa còn nhỏ tuổi, Tiêu thái hậu chấp chính, Tiêu gia uy thế càng thêm lừng lẫy. Kiều Phong đột nhiên biết mình thuộc dòng một họ lớn của Khất Đan nên trong lòng ngổn ngang trăm mối, đứng xuất thần một hồi, quay sang nói với A Châu:
– Từ nay trở đi ta là Tiêu Phong không còn là Kiều Phong nữa. A Châu đáp:
– Đúng thế, Tiêu đại gia. Trí Quang nói:
– Tiêu đại hiệp, tự tích còn lưu lại trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan, chắc là ông đã thấy qua rồi?
Tiêu Phong lắc đầu:
– Chưa đâu. Tại hạ ra ngoài quan ngoại, vết chữ trên vách đá đã bị ai đó đục mất, không còn chút ngấn tích nào.
Trí Quang thở dài nói:
– Mọi việc đều đã qua, đến tự tích trên vách đá cũng đã đục mất, mấy chục mạng người làm sao có thể cứu sống lại được?
Ông từ tay áo lấy ra một tấm vải cũ cực lớn nói:
– Tiêu thí chủ, đây là bức tự tích tô trên vách đá.
Tiêu Phong trong lòng bồi hồi, cầm lấy mảnh vải, mở ra hóa ra mảnh vải này là do rất nhiều mảnh quần áo rách khâu lại với nhau, chữ nào chữ nấy đều là vết trống ở giữa thành hình chữ trắng, nét bút quái lạ tuy hình dáng trông cũng giống chữ Hán nhưng không đọc được nên biết là chữ Khất Đan. Tuy nhiên nét bút hùng kiện, tưởng như dao đục búa chém, nghe Trí Quang đại sư hôm đó nói rằng, đây là do phụ thân mình khi sắp chết dùng dao khắc thành, không khỏi thương cảm, nói:
– Mong được đại sư dịch giải. Trí Quang đại sư nói:
– Năm xưa bọn ta tô được rồi mới đem nhờ người ở trong Nhạn Môn Quan biết chữ Khất Đan giải thích cho, hỏi mấy người thì ai ai cũng bảo cùng một ý xem ra
không phải là sai. Tiêu thí chủ, hàng chữ này nói là: “Phong nhi vừa tròn một năm, ta đưa vợ con đi ăn tiệc ở bên bà ngoại, trên đường đột nhiên gặp phải bọn ăn cướp Nam Triều…”
Tiêu Phong nghe đến đây trong lòng xót xa, Trí Quang tiếp tục kể:
– … chỉ chớp mắt, vợ ta bị cướp giết chết nên cũng không muốn sống làm gì. Thụ nghiệp ân sư của ta là người Hán, ta đã từng thề trước mặt sư phụ không coi người Hán là địch, lại càng không giết Hán nhân, ngờ đâu hôm nay giết một lượt hơn mười người, vừa thẹn vừa đau lòng, chết đi còn mặt mũi nào nhìn thấy ân sư được nữa. Tiêu Viễn Sơn tuyệt bút”.
Tiêu Phong nghe Trí Quang dịch xong, cung kính gập mảnh vải tô chữ lại nói:
– Đây là di trạch của tiên nhân Tiêu mỗ, mong đại sư ban cho. Trí Quang nói:
– Xin nguyện phụng tặng.
Tiêu Phong đầu óc hỗn loạn, nghĩ đến cái đau lòng của phụ thân năm xưa, mới biết việc ông nhảy xuống vực tự tận chẳng phải chỉ vì đau lòng vợ bị giết mà thôi, mà còn là vì đã không vẹn lời thề, giết quá nhiều người Hán nên phải thẹn với sư môn.
Qua một lúc lâu, Tiêu Phong nói:
– Ngày đó tại hạ trong rừng hạnh ở Vô Tích đã được gặp đại sư, trong lòng có vô số nỗi hoài nghi, khẩn cầu đại sư chỉ điểm.
Trí Quang nói:
– Đức Phật năm xưa ở Thiên Trúc dạy bảo đệ tử, chúng đệ tử nhiều mặt hỏi han, Phật tổ có giải thích rõ ràng, có câu hỏi lại không trả lời, cũng không phải Phật tổ không biết mà không trả lời, mà câu trả lời quá mức thâm ảo, có liên lụy rất lớn, không phải chỉ một lời mà hết. Nếu trả lời thẳng, chúng đệ tử khó có thể hiểu được, có người không khỏi tỏ ra mình hiểu, nhưng thực ra không phải hiểu đúng nghĩa, nếu truyền bá đi, gây hại cho chính pháp. Có mười bốn vấn đề Phật tổ không đáp, kinh Phật ghi chép lại đó là “thập tứ bất đáp”. Lão phu kiến thức nông cạn, không dám ví với Phật tổ, Tiêu thí chủ có gì muốn hỏi, lão nạp có thể trả lời thì sẽ nói, nếu như không thể trả lời thỏa đáng thì sẽ không nói, xin cáo tội với thí chủ trước.
Tiêu Phong đứng dậy nói:
– Tại hạ hôm nay gặp được năm vị lão giả đức độ khiến cho người ta phải bái phục. Năm vị cao nhân đó chỉ điểm cho tại hạ, nói là năm đó đại sư tham dự trận chiến ở Nhạn Môn Quan là vì hiểu lầm chứ không phải chủ tâm. Những điều tại hạ muốn hỏi đều là vì không biết, xin đại sư thứ lỗi tại hạ ăn nói thô lỗ, bình sinh ít thụ giáo, không hiểu lí lẽ, hỏi không đúng chỗ.
Ông cả đời hào hùng lỗ mãng, nói những lời nhã nhặn như vậy thì cả đời chưa có, cảm thấy có phần trái ngược với bản tính, nhưng ông tin tưởng Trí Quang thiền sư là người đại đức, lời nói ra hết sức thành tâm thành ý. Trí Quang nói:
– Tiêu thí chủ không cần quá khiêm tốn, lão nạp vốn là người học võ, mấy năm gần đây mặc dù võ công mất hết, nhưng bản tính của người học võ thì vẫn còn. Chúng ta với nhau không cần khách khí, cứ nói thẳng vào vấn đề.
Tiêu Phong thở dài một hơi, cất cao giọng nói:
– Như vậy thì rất tốt!
Nghĩ rằng nói chuyện như vậy mới là thói quen bình sinh. Trí Quang nói:
– Tiêu thí chủ, mời ngồi nói chuyện.
Tiêu Phong vẫn đứng yên chắp tay trước ngực không rời một tấc, nói:
– Tại hạ khẩn cầu đại sư chỉ điểm: Biên giới Tống Liêu liên tục mấy năm chiến tranh, năm đó quân Tống triều mai phục ở Nhạn Môn Quan giết cha mẹ tại hạ, tại hạ nghĩ rằng hai nước tranh chấp, chém giết biên giới lẫn nhau là chuyện bình thường, vì sao khi đại sư cùng Triệu Tiền Tôn nói ra, trong giọng nói lại có phần hối hận vô cùng, lại pha chút không muốn. Hai nước đánh nhau, tử thương hàng ngàn hàng vạn, có gì phải đáng nói?
Trí Quang thở dài, chậm rãi nói:
– Mời ngồi! Thí chủ có biết lệnh tôn khi trước ở nước Liêu giữ chức vị gì? Tiêu Phong nói:
– Danh húy tiên phụ, hôm nay mong đại sư cho biết, những chuyện lúc trước, tiểu nhân bất hiếu, không biết gì cả.
Trí Quang nói:
– Lệnh tôn tên là Tiêu Viễn Sơn, chuyện đã cách đây ba mươi năm, hiện nay người hai nước Tống Liêu biết đến lệnh tôn không còn nhiều. Ba mươi năm trước, lệnh tôn là người dòng tộc hoàng hậu nước Liêu, giữ chức Thân quân tổng giáo đầu, võ công cao nhất nước Liêu, chỉ sợ Đại Tống cũng không ai địch được. Võ công y ở nước Liêu, đúng là một vị cao nhân
Quân Tống sau đại bại ở Trần gia cốc, quân Khất Đan mấy năm về sau liên tục đánh xuống nam, thắng nhiều bại ít. Đến năm Cảnh Đức Chân Tông hoàng đế, hoàng đế Khất Đan cùng mẫu thân Tiêu thái hậu tự mình dẫn đại quân, đánh đến dưới chân thành Thiền Châu. Chân Tông hoàng đế đích thân tới Thiền Châu, cùng Khất Đan đính ước, gọi là “Thiền Uyên chi minh”, ước là hai nước từ nay bãi binh đình chiến. Đến nay hơn tám mươi năm, hai nước cũng không xảy ra chiến tranh. Nước Liêu chỉ đánh Cao Li, Đại Tống lại đánh Tây Hạ, thí chủ nói là vì duyên cớ gì?
Tiêu Phong nói:
– Thế là quân chủ hai nước đương quyền đều nguyện tuân thủ minh ước. Nghe nói trong minh ước, Tống triều hàng năm tặng Khất Đan mười vạn lượng bạc, hai mươi vạn cuộn lụa, nếu như đánh nhau, Khất Đan không thu được từng đó bạc lụa.
Trí Quang mỉm cười nói:
– Khất Đan thiếu vải vóc, lương thực không đủ, đều phải dựa vào Đại Tống, Khất Đan tiền bạc không nhiều, không đến cống cho Tống triều cũng chủ yếu là vì nguyên nhân đó. Còn một nguyên nhân khác, đó là vì lệnh tôn đã làm một việc đại sự.
Tiêu Phong ngạc nhiên nói:
– Cha ta? Cha ta chỉ là Thân quân tổng giáo đầu, võ công tuy cao, nhưng chức vị thấp kém, chuyện quốc gia đại sự trong triều có thể nói là không có tiếng nói. Trí Quang nói:
– Thân quân tổng giáo đầu chức vị không cao, nhưng phụ trách bảo vệ hoàng đế cùng thái hậu. Năm đó hoàng đế Khất Đan, thái hậu đều yêu thích võ công, đối với lệnh tôn rất là ngưỡng mộ. Mỗi khi Tống Liêu có tranh luận quá mức, lệnh tôn đều góp lời với hoàng đế và thái hậu, khuyên bọn họ không nên động võ dụng binh. Lệnh tôn tuy chức vị thấp, nhưng bình quyền quốc gia ở trong tay hoàng đế và thái hậu, thái hậu và hoàng đế nói không đánh thì sẽ không đánh. Tống Liêu không động binh, hai nước không biết giữ lại được bao nhiêu tính mạng, vừa không tổn hại quân lính, lại không hao phí quân lương, dân chúng cơm no áo ấm, an cư lạc nghiệp, đó là một đại hảo sự.
Trí Quang đại sư uống vài ngụm trà rồi nói tiếp:
– Đại Tống tù khi khai quốc đến nay, vẫn là Liêu mạnh Tống yếu, huống chi phía tây biên giới Tống triều lại có đại địch Tây Hạ, chỉ cần quân Khất Đan không đánh xuống nam, Tống triều cầu còn không được, quyết không khởi binh đánh lên bắc. Lệnh tôn khuyên can hoàng đế Liêu cùng Tống triều hòa hảo, lúc đầu Tống triều không biết, sau tin đó chậm rãi truyền xuống nam, đại thần trong triều và các thủ lĩnh võ lâm mới biết là lệnh tôn làm, vạn lần không thể tưởng tượng được người Khất Đan lại có người tốt như vậy. Có người liền muốn tặng lễ cho lệnh tôn, lệnh tôn lại sai người nhất nhất trả lại, chỉ nói: “Ân sư của ta là người Hán nam triều, Tiêu Viễn Sơn cố gắng ngăn dụng binh với Đại Tống, cũng vì báo đáp ân sâu hậu đức của ân sư”. “Đại ca thủ lĩnh” cùng lão nạp, Uông bang chủ sau này mới biết được người chúng ta hại chết chính là lệnh tôn, trong lòng đều hổ thẹn vô cùng. “Đại ca thủ lĩnh” nói những năm gần đây ngày đêm canh cánh trong lòng, kì thực có lỗi với lệnh tôn, lại sợ Tống Liêu lại chiến tranh. May mắn hoàng đế nước Liêu cùng thái hậu thương yêu trăm họ, không gây chiến, nghĩ
đến Liêu chủ tự mình cầm binh tuân thủ minh ước, nhận thức được ý tốt của lệnh tôn đã khuyên giải. Chúng ta lại tự tay hại chết một vị bồ tát sống tạo phúc cho vạn dân, bởi vậy mọi người quyết ý bảo toàn tính mạng cho thí chủ, đồng thời nghĩ cách bồi dưỡng thí chủ thành tài.
Tiêu Phong nghe đến đó thầm nghĩ: “Thì ra là thế. Lúc ta làm bang chủ Cái Bang, hoặc tự thân xuất mã, hoặc phái người động thủ, giết qua không ít tướng lính nước Liêu, chẳng thấy có chút day dứt, chỉ thấy những người đó đáng chết, giết được là tốt. Cha ta lại tận sức cho hai nước hòa hảo, có lòng nhân từ cho cả hai nước, công đức hơn ta gấp trăm lần”, liền nói:
– Đa tạ đại sư chỉ điểm, soi sáng một nỗi nghi hoặc trong lòng tiểu nhân. Trí Quang ngẩng đầu suy tư, qua một lúc lâu, chậm rãi nói:
– Lúc đầu bọn ta vẫn tưởng lệnh tôn thống lãnh võ sĩ Khất Đan đến chùa Thiếu Lâm để đoạt kinh văn, đến khi đọc được di văn trên thạch bích này rồi mới biết là một chuyện lầm lẫn, hết sức sai quấy. Lệnh tôn đã quyết chí tự tận không lẽ nào khi sắp chết còn viết lời giả dối đánh lừa người ta. Nếu như ông ta toan đến chùa Thiếu Lâm đoạt kinh, lẽ nào lại mang theo một người vợ không biết chút võ công nào, bế thêm một đứa trẻ vừa đầy năm? Về sau chúng ta tra cứu cái tin đoạt kinh chùa Thiếu Lâm kia, thì ra từ miệng một kẻ nói láo, kẻ đó chủ tâm đùa giỡn “đại ca thủ lĩnh” để cho ông ta phải nghìn dặm bôn ba để cho người ta cười một chuyến, làm bại hoại thanh danh của y.
Tiêu Phong nói:
– Ôi, hóa ra chỉ là để đùa cợt mà thôi, gã ăn gian nói dối kia sao lại làm thế? Trí Quang nói:
– “Đại ca thủ lĩnh” tra xét rõ ràng rồi, trong bụng giận lắm nhưng tên nói láo kia đã trốn mất biệt, từ đó đến nay không thấy bóng dáng đâu nữa. Đến nay cũng đã ba mươi năm rồi, chắc y không còn sống trên đời này nữa.
Tiêu Phong nói:
– Tên ăn gian nói dối kia bịa đặt ra lời đồn này, vị tất chỉ muốn đùa cợt, làm bại hoại thanh danh người khác mà thôi. Hắn muốn hại chết cha ta, khơi mào Tống Liêu phân tranh, hai nước lại một hồi đại chiến, chiến tranh tàn phá, lưỡng bại câu thương. Tên nói láo này phân nửa là đến từ Cao Li, hoặc là Tây Hạ, nói chung là dụng tâm hiểm ác với hai nước Tống Liêu. Đai sư chỉ gọi hắn là kẻ nói láo cũng là từ bi lắm rồi.
Ông mặc dù trời sinh tính phóng khoáng, nhưng làm bang chủ Cái Bang nhiều năm, ngày thường lưu tâm việc quốc gia đại sự, không chỉ còn là những việc tranh hùng đoạt lợi trong chốn võ lâm. Trí Quang gật đầu nói:
– Thí chủ dù sao cũng là người làm đại sự, vừa suy nghĩ là nghĩ tới tình hình thiên hạ. Bao nhiêu người học võ, nghĩ tới nghĩ lui cũng toàn là võ công, môn phái, thanh danh này nọ luẩn quẩn. “Đại ca thủ lĩnh” đã phạm sai lầm lớn, ba mươi năm nay ngày đêm lòng như lửa đốt, sợ quân Liêu đánh xuống nam, vô cùng hối hận tự trách, khổ hạnh giày vò, chịu khổ cũng đã rất nhiều. Trên đời oán cừu nên cởi chứ không nên buộc, ân oán tương báo, thật là vô vị, không bằng thản nhiên nở một nụ cười. Còn có một nguyên nhân, nói đến không khỏi có chút bất kính với thí chủ.
Tiêu Phong nói:
– Xin đại sư chỉ điểm. Trí Quang chậm rãi nói:
– Thí chủ muốn đi tìm “đại ca thủ lĩnh”, “đại ca thủ lĩnh” đã sớm quyết ý không trốn tránh. Đừng nói Tiêu thí chủ võ công trác tuyệt, kể cả nếu hoàn toàn không có võ công, chỉ cần một thanh đoản đao thì có thể giết chết y. Nhưng bên cạnh “đại ca thủ lĩnh”, hảo thủ không phải là ít, chẳng cần phải nói, bọn họ sẽ dốc toàn lực bảo vệ “đại ca thủ lĩnh”. Cho dù “đại ca thủ lĩnh” có hạ lệnh ngăn lại, cam tâm mà chết thì sau khi y vừa chết, thủ hạ của y nếu cùng tấn công thì khó có thể ngăn lại.
Tiêu Phong trong lòng rùng mình: “Ta ngay cả giết được thủ phạm đầu đảng tội ác, chung quy cũng không địch lại đối phương người đông thế mạnh. Nhưng Tiêu Phong há lại sợ đầu sợ đuôi, biết khó mà lui? Cha mẹ đại cừu, không đội trời chung, nam tử Hán đại trượng phu, sao lại sợ nguy hiểm? Tiêu Phong ta biết khó khăn nhưng vẫn phải lao vào”. Lúc này đứng lên, cung kính nói:
– Đa tạ đại sư chỉ điểm. Tiêu mỗ ngu dốt nhưng vẫn muốn đi gặp vị “đại ca thủ lĩnh” kia. Người này làm hại ta từ nhỏ không được cha mẹ thân sinh nuôi dưỡng, há lại là chuyện nhỏ?
Trí Quang nói:
– Tiêu thí chủ nhất định phải biết tên người này? Tiêu Phong nói:
– Đúng vậy, thỉnh đại sư từ bi. Trí Quang nói:
– Lão nạp nghe nói Tiêu thí chủ chỉ vì muốn tra xét chuyện này mà đã giết chết Từ trưởng lão của Cái Bang, Đàm công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn bốn người, lại giết thêm cả nhà Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính, đốt Đơn gia trang thành bình địa nên biết rằng sớm muộn gì cũng sẽ đến đây. Xin thí chủ chờ một chút.
Nói xong ông đứng lên. Tiêu Phong đang định nói rõ Từ trưởng lão và những người kia mình không hề giết thì Trí Quang đã đi thẳng vào hậu đường không quay đầu lại. Một lát sau, nhà sư Phác Giả đi vào nhà khách nói:
– Sư phụ mời hai vị vào thiền phòng nói chuyện.
Tiêu Phong và A Châu đi theo y qua một con đường mòn hai bên trồng trúc xanh um, đến trước một căn nhà nhỏ. Phác Giả hòa thượng đẩy cửa ra nói:
Tiêu Phong và A Châu liền tiến vào. Trí Quang đại sư ngồi xếp bằng trên một chiếc bồ đoàn, nhìn Tiêu Phong mỉm cười nói:
– Thí chủ yêu cầu, lão nạp không đáp.
Rồi đưa ngón tay viết lên trên đất mấy hàng chữ. Căn nhà nhỏ này lâu nay không quét dọn nên bụi đóng thật dày thấy ông viết trên đó như sau:
Vạn vật nhất ban Chúng sinh bình đẳng Hán nhân Khất Đan Nhất thị đồng nhân Ân oán vinh nhục Huyền diệu nan minh Đương hoài từ tâm
Thường niệm thương sinh.
Viết xong ông nở một nụ cười rồi chậm rãi nhắm mắt lại. Tiêu Phong nhìn tám hàng chữ dưới đất, ngơ ngẩn xuất thần nghĩ bụng: “Dưới mắt nhà Phật, người nhân người ác cũng vậy thôi, đến súc sinh ngạ quỷ, vua chúa quan tướng cũng đều không có gì phân biệt. Ta có là người Hán hay là người Khất Đan, chẳng cần phải bàn làm gì. Thế nhưng ta có phải người tu hành đâu, làm sao có thể tiêu sái như vậy được?”. Ông bèn nói:
– Đại sư, vậy cái gã “đại ca thủ lĩnh” đó là ai? Xin đại sư cho biết.
Ông hỏi luôn mấy câu, Trí Quang đại cư chỉ mỉm cười không trả lời. Tiêu Phong định thần nhìn kỹ, không khỏi giật mình, thấy mặt ông tuy nở một nụ cười nhưng cứng đơ không cử động. Tiêu Phong gọi giật lên hai lần “Trí Quang đại sư” nhưng ông vẫn không động tĩnh gì, vội đưa tay lên thăm mũi thì ra đã ngừng thở viên tịch từ bao giờ. Ông buồn bã không còn biết nói sao, quỳ xuống lạy mấy lạy, quay sang ngoắc A Châu:
– Thôi mình đi!
Hai người cùng Phác Giả hòa thượng cáo biệt, đi ra khỏi chùa, lòng buồn rười rượi quay về huyện thành Thiên Thai.
Đi được độ mươi dặm, Tiêu Phong mới nói:
– A Châu, ta thật hoàn toàn không có ý làm hại Trí Quang đại sư, sao ông ta… ông ta… lại phải khổ đến vậy?
A Châu đáp:
– Vị cao tăng đó đã nhìn thấu mọi việc trên đời, đại triệt đại ngộ đâu có còn phân biệt đâu là sống đâu là chết. Y nghĩ đến bọn Từ trưởng lão là do ông giết, y quyết ý không nói ra danh tính “đại ca thủ lĩnh”, tự nghĩ là không sao thoát khỏi độc thủ của đại gia nên sau khi nói chuyện xong liền uống thuốc độc tự tận.
Hai người nhìn nhau một hồi không ai nói thêm câu nào. A Châu bỗng nói:
– Tiêu đại gia, tiểu nữ không biết trước sau, có mấy câu muốn nói, xin đại gia đừng trách cứ.
Tiêu Phong đáp:
– Sao tự nhiên nàng lại khách sáo đến vậy? Ta đương nhiên không trách gì nàng đâu.
A Châu nói:
– Thiếp nghĩ Trí Quang đại sư viết mấy câu trên đất, quả thực hết sức có lý. Đúng vậy:
Hán nhân Khất Đan Nhất thị đồng nhân Ân oán vinh nhục Huyền diệu nan minh.
Đại gia là người Hán thì cũng tốt, mà là người Khất Đan thì cũng vậy, có gì khác đâu? Sống chết nơi đầu đao mũi kiếm ở chốn giang hồ, tiểu nữ nghĩ chắc đại gia cũng chán rồi, chi bằng ra ngoài Nhạn Môn Quan săn bắn, chăn nuôi, bao nhiêu ân oán vinh nhục của Trung Nguyên từ nay không còn ngó ngàng tới nữa.
Tiêu Phong thở dài một tiếng nói:
– Quả thật cái nghề sinh nhai bằng đầu đao mũi kiếm ta chán lắm rồi. Ra nơi thảo nguyên ngoài biên tái cưỡi ngựa, thả ưng, xua chó đuổi thỏ, từ nay không còn băn khoăn gì nữa thì quả là thoải mái biết bao. A Châu, ta ra ngoài biên tái rồi nàng có còn đến thăm ta nữa không?
A Châu thẹn thùng, cúi đầu nói nhỏ:
– Thì tiểu nữ đã chẳng nói đến “chăn nuôi” đấy ư? Đại gia cưỡi ngựa đi săn, tiểu nữ cũng thả bò chăn cừu. Hai người ngày nào cũng ở cùng nhau, mở mắt ra là thấy được nhau.
Nàng nói đến đây bèn cúi gầm mặt xuống. Tiêu Phong tuy là một hán tử thô hào nhưng cái ẩn ý trong mấy câu nói của cô gái cũng đã minh bạch, nàng rõ ràng muốn cùng mình suốt đời sống với nhau ngoài biên tái, không quay về Trung Nguyên nữa.
Tiêu Phong lúc đầu cứu nàng chẳng qua chỉ vì khí khái nhất thời, đến khi nàng tìm đường theo mình ra ngoài Nhạn Môn Quan, rồi qua Vệ Huy, Thái An, Thiên Thai bao nhiêu sóng gió, đường sá xa xôi, ngày đêm kề cận thấy nàng thật là ôn nhu thân thiết, lúc này nghe nàng nói thẳng tấm lòng mình, không khỏi bồi hồi, giơ hai bàn tay thô kệch nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của nàng nói:
– A Châu, nàng đối với ta thật tốt, chẳng vì ta là dòng giống đê tiện Khất Đan mà bỏ rơi ư?
A Châu đáp:
– Người Hán cũng là người mà Khất Đan cũng là người, làm gì còn có chuyện quý tiện? Thiếp… thiếp thích người Khất Đan, đó là chân tâm thành ý, không có gì ép uổng cả.
Nàng nói đến những câu sau cùng tiếng chỉ thoảng nhẹ như muỗi kêu dường như không nghe thấy. Tiêu Phong mừng quá, đột nhiên giơ tay chộp ngay lưng nàng, tung nàng lên trên không, đợi khi nàng rơi xuống mới nhẹ nhàng đỡ lấy, để xuống đất, cười tủm tỉm nhìn nàng, lớn tiếng nói:
– A Châu, nàng từ nay theo ta cưỡi ngựa săn bắn, thả cừu chăn bò, sẽ không hối hận chứ?
A Châu nghiêm mặt nói:
– Dẫu có theo đại gia giết người cướp của, đốt nhà ăn trộm thiếp cũng không bao giờ hối hận. Dù phải chịu bao nhiêu khổ sở, trăm cay nghìn đắng, thiếp vẫn vui vẻ theo cùng.
Tiêu Phong dõng dạc nói:
– Tiêu mỗ được như thế này, chẳng nói gì trở lại làm bang chủ Cái Bang, dẫu có bảo ta làm hoàng đế nhà Đại Tống ta cũng chẳng thèm. Ta thà làm người Khất Đan, không làm người Hán. A Châu, thôi mình đi Tín Dương tìm Mã phu nhân, bà ta chịu nói cũng được, mà không chịu nói cũng đành, đây là người sau cùng mình đi kiếm. Ta chỉ hỏi một câu sau đó hai đứa mình ra ngoài ải bắc săn bắn chăn nuôi.
A Châu nói:
– Tiêu đại gia…
Tiêu Phong ngắt ngang:
– Từ nay trở đi, nàng không được gọi ta là đại gia, nhị gia gì nữa. Nàng gọi ta là đại ca.
A Châu mặt đỏ bừng nói nhỏ:
– Thiếp đâu có xứng?
Tiêu Phong nói:
– Nàng có chịu gọi không thì bảo? A Châu mỉm cười:
– Nghìn lần chịu, vạn lần chịu, đâu có dám cãi lời. Tiêu Phong cười nói:
– Vậy nàng gọi thử ta xem nào! A Châu nói thật nhỏ:
– Đại… đại ca!
Tiêu Phong cười ha hả nói:
– Thế mới được! Từ nay về sau Tiêu mỗ không còn một thân một mình, bị người ta khinh bỉ là giống Hồ Lỗ hèn hạ, trên đời này ít ra cũng có một người… cũng có một người…
Ông không biết phải nói sao. A Châu tiếp lời:
– … cũng có một người kính trọng đại ca, bội phục đại ca, thương yêu đại ca, nguyện ý đời đời kiếp kiếp, ở bên cạnh đại ca chia xẻ đắng cay gian khổ, ấm lạnh đói no.
Nàng nói những câu đó cực kỳ thành khẩn. Tiêu Phong cất tiếng cười vang động cả bốn bề sơn cốc, nghĩ đến A Châu nói sẽ cùng mình “nguyện ý mãi mãi, đời đời kiếp kiếp, ở bên cạnh chàng chia xẻ đắng cay gian khổ, ấm lạnh đói no” đủ biết nàng hiểu rằng rồi đây sẽ có rất nhiều chông gai nhưng thản nhiên cam chịu không hề hối hận. Ông trong lòng cảm kích tuy mặt ngoài cười cợt nhưng hai dòng lệ chảy ròng ròng trên má.
Tiền nhiệm phó bang chủ Cái Bang Mã Đại Nguyên ở tại Tín Dương, tỉnh Hà Nam. Tổng đà Cái Bang ở Lạc Dương Hà Nam, Tín Dương cùng Vệ Huy cách tổng đà không xa lắm. Tiêu Phong cùng A Châu từ núi Thiên Thai ở Giang Nam đi đến Tín Dương, đi hơn nửa đường thì lại quay về đường cũ, đường xa nghìn dặm không phải chỉ một ngày là đến được. Hai người từ khi ở núi Thiên Thai ướm lòng với nhau, tình ý dạt dào, nên thả lỏng dây cương để vừa đi vừa thưởng ngoạn những cảnh đẹp làm say sưa lòng người. A Châu vốn dĩ không thích uống rượu nhưng để trợ hứng cho Tiêu Phong nên cũng cố uống hầu tiếp một vài chung khiến má đỏ hồng lại càng thêm xinh đẹp.
Tiêu Phong vốn dĩ bụng đầy phẫn khích nhưng được A Châu nói cười ríu rít, chuyện trò thật duyên dáng nên bao nhiêu phiền não cũng giảm đến quá nửa. Chuyến đi từ Giang Nam ngược lên trung châu, so với lần đi từ Nhạn Môn Quan hối hả chạy qua Sơn Đông tâm tình thật khác hẳn. Tiêu Phong cũng có khi hồi tưởng, chặng đường mấy nghìn dặm này thật quả mơ mơ hồ hồ, lúc đầu là những cơn ác mộng nhưng đến sau lại là một cơn mộng đẹp đến nỗi nếu không có nàng A Châu kiều diễm ở bên mình thì ắt đã nghi rằng chỉ là một giấc mơ.
Hôm đó đi đến Quang Châu, chỉ còn chừng hai ngày đường là đến Tín Dương. A Châu nói:
– Đại ca thử nghĩ xem mình đến hỏi Mã phu nhân thế nào cho tiện?
Hôm đó ở trong khu rừng hạnh và nơi Tụ Hiền Trang, Mã phu nhân thần thái ngôn ngữ thù hằn Tiêu Phong ra mặt, rất có ý vu hãm, Tiêu Phong tuy không lấy gì làm vui nhưng sau nghĩ lại bà ta chồng chết, lại cho rằng mình giết hại, có oán hận mình thì cũng là chuyện bình thường, nếu không thù hận ấy mới là không hợp lý. Ông lại nghĩ bà ta là một người đàn bà góa không biết võ công, nếu như uy hiếp bức bách thì quả là mất cái thân phận hào hiệp của mình nên không nghĩ tới việc dùng bạo lực tra hỏi, nay nghe A Châu hỏi thế không khỏi ngẩn người ra một hồi rồi đáp:
– Ta nghĩ mình chỉ nên thẳng thắn cầu xin, mong bà ta hiểu rõ sự tình khỏi đổ tiếng oan cho ta giết chồng. A Châu, hay là nàng đến hỏi bà ta đi, được chăng? Nàng mồm miệng lanh lợi, vả lại chỗ đàn bà với nhau. Chỉ sợ một khi Mã phu nhân thấy mặt ta, bụng đầy oán hận là sẽ giở trò ngay.
A Châu tủm tỉm cười:
– Thiếp đã có kế đây nhưng sợ đại ca cho là không hay thôi. Tiêu Phong vội hỏi:
– Kế gì thế?
A Châu nói:
– Đại ca là đại anh hùng, đại trượng phu không thể bức cung bà ta được, chi bằng để thiếp đến đánh lừa bà ta, được chăng?
Tiêu Phong vui mừng nói:
– Nếu như dụ được bà ta thổ lộ chân tướng thì còn gì hơn. A Châu, chắc nàng cũng biết ta ngày đêm canh cánh, mơ tưởng chuyện được chính tay đâm chết kẻ đại cừu để trả mối thù giết cha. Ta là người Khất Đan, “tên đại ác” kia giúp Kiều mỗ lộ được cái bản lai diện mục của mình, khiến cho ta biết được tổ tông mình là ai, ta phải cảm ơn mới phải. Thế nhưng tại sao y lại giết dưỡng phụ dưỡng mẫu của ta? Giết ân sư của ta? Ép ta phải giết hại bằng hữu, mang cái tiếng ác, biến thành kẻ thù của anh hùng thiên hạ? Nếu ta không băm vằm y ra, thì làm sao yên tâm để cùng nàng ở ngoài biên tái cưỡi ngựa săn thú, chăn bò thả cừu?
Ông càng nói càng lên giọng. Mấy hôm nay tuy thần thái ông không còn u uất như trước, nhưng tấm lòng thù hận “tên đại ác” không vì thế mà giảm được chút nào. A Châu nói:
– “Tên đại ác” kia hại đại ca âm độc như thế, thiếp chỉ mong được chém y mấy nhát cho đại ca hả dạ. Mình bắt được y rồi sẽ tổ chức một anh hùng đại yến, mời tất cả anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, trước tất cả mọi người nói rõ nỗi oan khuất để thanh danh của đại ca được hồi phục.
Tiêu Phong thở dài:
– Cũng chẳng cần phải thế. Ta ở Tụ Hiền Trang giết quá nhiều người, kết oán thù với anh hùng thiên hạ cực sâu xa, cũng chẳng phải cầu ai tha thứ cho mình. Tiêu Phong chỉ mong kết liễu được chuyện này để trong tâm hồn được bình an, sau đó được cùng nàng rong ruổi bên ngoài biên tái, hai đứa mình suốt đời làm bạn với hổ lang bò cừu, không bao giờ gặp lại anh hùng hảo hán Trung Nguyên nữa.
A Châu vui mừng nói:
– Nếu được thế thì quả là tạ trời tạ đất, cầu còn chưa xong. Nàng mỉm cười nói:
– Đại ca, thiếp định giả làm một người đến đánh lừa để cho Mã phu nhân nói tính danh của “tên đại ác” ra.
Tiêu Phong vỗ đùi kêu lên:
– Đúng đó, đúng đó! Ta không nghĩ ra cách này, thuật cải trang của nàng dùng vào việc này thì trên đời có một không hai. Thế nàng định giả làm ai?
A Châu đáp:
– Cái đó phải hỏi đại ca. Khi Mã phó bang chủ còn tại thế, trong Cái Bang giao thiệp với ai thân thiết nhất thiếp sẽ giả làm người đó, Mã phu nhân tưởng là bạn thân của trượng phu, chắc sẽ không giấu đâu.
Kiều Phong nói:
– Ồ, những người trong Cái Bang thân thiết với Mã Đại Nguyên huynh đệ thì có Vương đà chủ, Toàn Quan Thanh, Trần trưởng lão. Ngoài ra Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính cũng có giao tình rất hậu.
A Châu hừm một tiếng, nghiêng đầu hồi tưởng lại hình mạo thần thái những người đó. Tiêu Phong lại tiếp:
– Mã huynh đệ là người điềm đạm nghiêm cẩn, không phải như ta thích rượu ham vui, ồn ào náo nhiệt. Thành thử bình thời y ít khi cùng ta uống rượu cười đùa. Toàn Quan Thanh, Bạch Thế Kính là những người giống tính y nên thường gặp nhau nghiên cứu võ công.
A Châu nói:
– Vương đà chủ là ai, thiếp không được biết. Trần trưởng lão thì trong cái túi gai chứa toàn rắn rết, thiếp mới thấy đã nổi da gà muốn ói, có giả trang cũng không giống được. Toàn Quan Thanh người cao quá giả làm y phải mất rất nhiều thì giờ, nếu như ở trong nhà Mã phu nhân một hồi lâu để thủng thẳng hỏi cho ra e rằng sẽ bị lộ chân tướng. Chi bằng để thiếp giả là Bạch trưởng lão. Ông ta có nói chuyện với thiếp mấy lần ở Tụ Hiền Trang, học làm ông ta dễ hơn cả.
Kiều Phong mỉm cười:
– Bạch trưởng lão đối với nàng thật tốt, hết lời cầu khẩn Tiết Thần Y trị thương. Nếu như nàng lại giả làm ông ta để đi đánh lừa người khác có phải là sai quấy hay không?
A Châu cười nói:
– Thiếp giả Bạch trưởng lão để làm chuyện tốt chứ nào có làm chuyện xấu hại đến thanh danh của ông ta, như thế có sao đâu?
A Châu liền ở trong khách điếm hóa trang ngay. Kiều Phong được A Châu cải trang thành một tên đệ tử Cái Bang năm túi tùy tòng của Bạch Thế Kính, lại dặn ông ta nói càng ít càng tốt, phòng Mã phu nhân là người tinh tế nhìn ra chỗ sơ hở.
Tiêu Phong thấy A Châu hóa trang thành Bạch trưởng lão rồi, mặt lạnh như băng, không giận dữ nhưng vẫn có uy, đúng là một vị Chấp Pháp trưởng lão mà mấy vạn đệ tử Cái Bang Nam Bắc ai ai cũng vừa sợ hãi vừa kính trọng, không chỉ hình dáng bên ngoài mà cả lời ăn tiếng nói, thần thái cử chỉ giống hệt Bạch Thế Kính khiến Tiêu Phong giao thiệp thân cận với ông ta cả chục năm mà cũng không nhìn ra chỗ nào không phải. Hai người đến Tín Dương rồi, trên đường mỗi khi gặp anh em trong Cái Bang đều dùng ám ngữ nói chuyện tra hỏi tình hình các nhân vật đầu não trong bang, sau đó thông tri là Bạch trưởng lão đã đến Tín Dương để Mã phu nhân biết tin để bà ta có sẵn ấn tượng trong lòng ngõ hầu A Châu cải trang có gì sai sẩy bà ta cũng không hay biết.
Nhà Mã Đại Nguyên ở ngoại ô phía tây, cách thành Tín Dương chừng ba mươi dặm. Tiêu Phong hỏi thăm đường đi từ các anh em Cái Bang tại địa phương rồi cùng A Châu đến nhà họ Mã. Hai người cố ý đi thong thả để diên trì thời khắc mãi xế chiều mới tới nơi vì e trời sáng mọi việc rõ ràng khiến cải trang dễ bị bại lộ, khi trời tối mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo dễ dàng mập mờ đánh lận con đen.
Hai người đến trước nhà họ Mã, chỉ thấy một con rạch nhỏ lượn quanh ba gian nhà ngói, bên cạnh là hai cây thùy dương còn đằng trước là một mảnh đất trống, giống như sân phơi thóc của nhà nông nhưng bốn bên đều có hào sâu. Tiêu Phong biết rõ võ công gia số của Mã Đại Nguyên, biết rằng những hào sâu này là để y luyện công, nhưng nay hai bên âm dương đôi ngả, trong lòng không khỏi se lại.
Ông đang toan tiến lên gọi cửa, đột nhiên nghe kẹt một tiếng cửa đã mở toang, một người đàn bà mặc áo sô trắng bước ra, chính là Mã phu nhân.
Mã phu nhân liếc Tiêu Phong một cái, khom lưng hành lễ với A Châu nói:
– Bạch trưởng lão quang lâm tệ xá, quả thực không sao ngờ nổi, xin mời vào dùng trà.
A Châu nói:
– Tại hạ có một việc quan trọng cần thương lượng với đệ muội nên chưa được mời đã đến.
Mã phu nhân toàn thân một màu sô gai trắng toát vẻ mặt như cười mà không phải cười, khóe miệng dường như có điều u uẩn. Khi đó mặt trời đã ngả về phía sau núi, phủ lên khuôn mặt nàng một màu vàng vọt. Tiêu Phong lần này gặp lại tâm thần không khích động như hai lần trước thấy nàng độ chừng ba mươi lăm ba mươi sáu, tuy khóe mắt đầu mày đã mờ mờ vết nhăn, mặt không nhồi phấn nhưng nước da trắng nõn không kém A Châu chút nào.
Hai người theo Mã phu nhân vào trong nhà, thấy sảnh đường xem chừng hơi nhỏ, giữa để một cái bàn, chung quanh là bốn chiếc ghế nên chẳng còn trống bao nhiêu. Một bà vú già đem trà lên, Mã phu nhân hỏi đến Tiêu Phong, A Châu thuận mồm bịa ra một cái tên. Mã phu nhân hỏi:
– Bạch trưởng lão đại giá quang lâm, không biết có điều gì dạy bảo? A Châu đáp:
– Từ trưởng lão qua đời ở Vệ Huy, chắc đệ muội cũng đã nghe rồi. Mã phu nhân đột nhiên ngẩng đầu lên, ánh mắt lộ vẻ khác lạ nói:
– Dĩ nhiên là tiện thiếp đã biết. A Châu lại tiếp:
– Bọn ta ai cũng nghi là Kiều Phong hạ độc thủ, sau đó Đàm công, Đàm bà và Triệu Tiền Tôn ba vị tiền bối cũng bị người ta giết bên ngoài thành Vệ Huy, rồi đến Thiết Diện Phán Quan Đơn gia ở Thái An, Sơn Đông bị cháy rụi. Mới đây không lâu, ta đi Giang Nam tra xét một tên đệ tử bảy túi trong bang vi phạm bang quy, trên đường nghe tin Trí Quang lão hòa thượng của chùa Chỉ Quán núi Thiên Thai cũng đột ngột viên tịch.
Mã phu nhân run lẩy bẩy, mặt biến sắc nói:
– Chuyện… chuyện đó cũng do Kiều Phong làm hay sao? A Châu nói:
– Ta đích thân lên chùa Chỉ Quán tìm hiểu tuy không có kết quả gì, nhưng mười phần thì đến tám chín là do Kiều Phong làm, xem ra bước kế tiếp y sẽ đến gây chuyện với đệ muội nên vội vàng đến đây, khuyên đệ muội lánh đi nơi khác một năm sáu tháng để khỏi bị gã họ Kiều làm hại.
Mã phu nhân rưng rưng nước mắt, buồn bã nói:
– Từ khi Mã đại gia bất hạnh bị nạn tới nay, tiện thiếp sống nơi trần thế cũng là kiếp sống thừa, họ Kiều kia muốn hại thì thực cầu còn chưa được, việc gì phải đi đâu tị họa làm chi?
A Châu nói:
– Sao đệ muội lại nói thế? Đại cừu của Mã huynh đệ chưa rửa được, hung thủ còn chưa bắt được thì đệ muội còn phải gánh vác trọng trách trên vai. À, linh vị của Mã huynh đệ ở đâu để ta đến vái lạy một cái.
Mã phu nhân đáp:
– Không dám.
Thế nhưng nàng vẫn dẫn hai người đi vào hậu đường. A Châu lạy trước, Tiêu Phong cũng cung kính đứng trước linh vị khấu đầu, trong bụng khấn thầm: “Mã đại ca chết đi có linh thiêng thì hôm nay cảm ứng vào phu nhân nói ra tính danh chân hung thủ, để ta thay thế đại ca báo thù rửa oan”.
Mã phu nhân quỳ ờ bên cạnh linh vị hoàn lễ, nước mắt ròng ròng trên má. Tiêu Phong lạy xong rồi, đứng lên thấy trong linh đường có treo mấy bức đối trướng, trong đó có cả của Từ trưởng lão, Bạch trưởng lão nhưng đôi câu đối của mình gửi tới dưới thân phận bang chủ không thấy đâu. Những vuông vải trắng trong linh đường đã tích bụi bặm lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương, Tiêu Phong nghĩ thầm: “Mã phu nhân không con không cái, suốt ngày chỉ có một mụ vú già làm bạn, ngày tháng cô khổ tịch mịch thật không biết nói sao cho hết”.
Lại nghe A Châu buông lời khuyên nhủ nào là “Đệ muội bảo trọng thân thể, mối thù của Mã huynh đệ là oán thù của chung mọi người. Nếu như nàng có điều gì khó
khăn, cứ nói thẳng cho ta nghe, ta sẽ sẵn lòng lo liệu tất cả” nghe thật ra vẻ đàn anh kẻ cả. Tiêu Phong trong bụng khen thầm: “Cô ả này thật là đâu ra đấy, bang chủ Cái Bang đã bị trục xuất, phó bang chủ đã qua đời, Từ trưởng lão bị người ta sát hại, Truyền Công trưởng lão bị ta giết rồi, bây giờ Bạch trưởng lão là người địa vị tối cao. Cô nàng nói rặt giọng điệu bang chủ quả thật xứng với thân phận vai trò”.
Mã phu nhân cảm ơn nhưng giọng lưỡi cực kỳ lạnh nhạt. Tiêu Phong hơi lo, thấy nàng ta không còn tha thiết, thần tình như kẻ mất hồn, chắc là từ khi trượng phu qua đời sống không còn lạc thú chi nữa, e rằng sẽ tự tận tuẫn phu, người đàn bà này tính khí cương cường chuyện gì cũng có thể làm được.
Mã phu nhân đưa hai người trở lại phòng khách, chẳng bao lâu bà vú đã dọn cơm ra, trên bàn có bốn món đồ chay gồm cải xanh, cải củ, đậu phụ, dưa leo và ba bát cơm khói bốc nghi ngút nhưng không có rượu. A Châu liếc nhìn Tiêu Phong nghĩ thầm: “Hôm nay không có rượu cho chàng uống”. Tiêu Phong thản nhiên như không, bưng bát cơm lên ăn.
Mã phu nhân nói:
– Từ khi Mã đại gia qua đời, kẻ vị vong này ăn toàn đồ chay, chỗ hẻo lánh không có rượu thịt, khoản đãi hai vị đạm bạc quá.
A Châu thở dài:
– Mã huynh đệ chết rồi không thể sống lại được, đệ muội cũng đừng quá làm khổ mình như thế.
Tiêu Phong thấy Mã phu nhân đối với người chồng quá cố quả thật có tình có nghĩa, trong lòng nổi lên một nỗi niềm kính trọng. Ăn cơm tối xong, Mã phu nhân nói:
– Bạch trưởng lão từ xa đến, tiểu nữ đáng lý phải giữ khách lại, có điều phận đàn bà góa không tiện chút nào, không biết trưởng lão muốn dặn dò điều gì? Trong lời ăn tiếng nói có chiều muốn đuổi khách đi. A Châu nói:
– Ta chuyến này đi Tín Dương cốt là để khuyên phu nhân rời nhà đi tránh họa chỗ khác, không biết đệ muội có điều gì phải tính toán hay không?
Mã phu nhân thở dài một tiếng nói:
– Gã Kiều Phong kia giết Mã đại gia, y có đến đây làm hại tiện thiếp thì cũng là đi theo chồng xuống suối vàng. Tiểu nữ tuy chân yếu tay mềm, chẳng dấu Bạch trưởng lão làm chi, chết thiếp đã không sợ thì còn sợ cái gì nữa.
A Châu nói:
– Nếu đã nói thế, đệ muội không bằng lòng rời nhà đi tị nạn nơi khác hay sao? Mã phu nhân đáp:
– Đa tạ hậu ý của Bạch trưởng lão. Tiểu nữ thật không đành rời nơi cố cư của Mã đại gia.
A Châu nói:
– Ta vốn dĩ muốn ở gần đây ít ngày để bảo hộ cho đệ muội. Vẫn biết là Bạch mỗ không phải là địch thủ của Kiều Phong nhưng trong lúc gấp gáp cũng đỡ được một tay. Ngờ đâu trên đường đi ta lại nghe được một tin tức cơ mật thật là trọng đại.
Mã phu nhân đáp:
– Ồ, thế thì việc phải lớn lao lắm.
Đàn bà vốn dĩ hiếu kỳ, nghe nói đến một việc cơ mật trọng đại, dù cho việc chẳng liên quan gì đến mình, miệng không hỏi nhưng vẻ mặt vẫn có ý thích nghe. Ngờ đâu Mã phu nhân vẫn thản nhiên như không, tưởng chừng có nói ra cũng thế mà không nói thì cũng chẳng hề chi, chồng đã chết rồi thì trên đời này không còn điều gì khiến nàng động tâm được nữa. Tiêu Phong nghĩ thầm: “Người đời vẫn bảo rằng đàn bà góa gan ruột héo hon, lạnh như tro bếp, nếu nói về Mã phu nhân thì thật là thích đáng”.
A Châu quay sang vẫy tay cho Tiêu Phong nói:
– Ngươi ra ngoài chờ, ta có mấy lời cơ mật nói với Mã phu nhân.
Tiêu Phong gật đầu, đi ra ngoài nhà, thầm khen A Châu thông minh, biết là nếu muốn người khác thổ lộ chuyện cơ mật cho mình thì phải nói chuyện bí mật của mình trước. Thành thử A Châu giả vờ nói chuyện cơ mật chính là làm cho Mã phu nhân tin tưởng, ngay cả kẻ tâm phúc của mình cũng không được nghe hẳn là chuyện này phải thật kín đáo.
Ông đi ra ngoài cửa, bên ngoài trời tối vắng lặng không một tiếng động, chỉ văng vẳng tiếng loảng xoảng từ dưới bếp vọng lên, chính là bà vú đang rửa bát, bèn đi vòng qua góc tường, nép vào ngoài cửa sổ phòng khách, nín thở lắng tai nghe. Dù cho Mã phu nhân không nói tên tuổi của người đó chỉ cần thổ lộ một chút đầu mối thì ông cũng có thể lần ra còn hơn hiện nay mù mờ không biết đâu mà mò. Huống chi vị Bạch trưởng lão này từ nghìn dặm xa xôi đến đây cảnh cáo đã là làm ơn cho bà ta rồi, khi sắp ra đi lại cho biết một chuyện đại sự cơ mật, một thủ lãnh của bản bang không lẽ Mã phu nhân lại dám dấu diếm hay sao? Nếu có đề cập tới chút manh mối của Cái Bang, A Châu chưa chắc đã suy đoán ra manh mối, mình ở đây có thể từ đó mà tìm ra ngọn ngành, đúng là phải nghe trộm.
Một lúc lâu sau mới nghe thấy Mã phu nhân thở dài một tiếng, u uẩn nói:
– Ông… ông còn đến làm gì nữa đây?
Tiêu Phong sợ việc vỡ lở làm hỏng đại sự thành thử không dám thò đầu ra nhìn xem trong phòng khách tình hình thế nào, trong bụng hơi lạ lùng: “Câu hỏi này của bà ta có dụng ý gì?’. Chỉ nghe A Châu nói:
– Ta quả có nghe tin đó, Kiều Phong có bụng muốn hại phu nhân nên tới báo tin. Mã phu nhân nói:
– Hừ, đa tạ hảo ý của Bạch trưởng lão. A Châu hạ giọng nói:
– Đệ muội, từ khi Mã huynh đệ bất hạnh qua đời, có mấy trưởng lão trong bang nhớ đến công lao của y nên muốn mời phu nhân xuất sơn, đảm nhiệm vai trò trưởng lão.
Tiêu Phong nghe nàng nói cực kỳ trịnh trọng không khỏi tức cười, nhưng trong bụng cũng phải khen thầm nàng tính kế thật cao, Mã phu nhân nếu bằng lòng, Bạch trưởng lão lập tức sẽ thành cấp trên của bà ta, có điều muốn hỏi thì không thể nào cự tuyệt được. Ví thử không bằng lòng làm trưởng lão trong bang nhưng thấy Cái Bang coi trọng mình như thế, Mã phu nhân ắt thể nào cũng hả lòng hả dạ.
Chỉ nghe Mã phu nhân đáp:
– Tiện thiếp có tài cán đức độ gì mà có thể đảm nhiệm chức trưởng lão trong Cái Bang? Đến đệ tử Cái Bang thiếp còn chưa đáng, huống chi địa vị trưởng lão cực cao, thật cách xa hàng muôn ngàn dặm.
A Châu đáp:
– Ta và bọn Ngô trưởng lão hết lòng tiến cử, ai nấy đều bảo rằng nếu có Mã phu nhân cùng đứng ra lo liệu thì việc bắt giữ hạ sát Kiều Phong thật dễ hơn nhiều. Ta lại còn có một tin tức thật trọng đại liên quan đến việc Mã huynh đệ bị giết.
Mã phu nhân hỏi lại:
– Thật vậy ư?
Giọng nói bà ta xem ra có vẻ thờ ơ. A Châu nói:
– Hôm đó nơi thành Vệ Huy điếu tang Từ trưởng lão, ta gặp Triệu Tiền Tôn, y có tiết lộ cho ta hay, nói y biết ai là chân hung thủ sát hại Mã huynh đệ.
Đột nhiên nghe choang một tiếng, một chiếc chén trà rơi xuống vỡ tan. Mã phu nhân hoảng hốt kêu lên một tiếng rồi lắp bắp nói:
– Ông… ông đùa giỡn cái gì thế?
Thanh âm nghe cực kỳ phẫn nộ, nhưng cũng có mấy phần kinh hoàng. A Châu đáp:
– Chuyện đó là chuyện đàng hoàng, ta làm sao đám nói đùa? Gã Triệu Tiền Tôn kia chính miệng nói cho ta nghe, y biết rõ hung thủ giết Mã Đại Nguyên huynh đệ. Y bảo nhất định không phải Kiều Phong, cũng chẳng phải Cô Tô Mộ Dung, y biết chắc chắn người đó là ai rồi.
Mã phu nhân run run hỏi:
– Làm sao y biết được? Làm sao y biết được? Ông chỉ nói nhăng nói cuội, có khác gì ban ngày ban mặt thấy ma?
A Châu đáp:
– Đúng vậy mà, phu nhân khỏi phải nóng ruột ta sẽ từ từ cho bà hay. Gã Triệu Tiền Tôn kia nói: “Năm ngoái vào mười lăm tháng tám…”.
Nàng ta nói chưa hết câu, Mã phu nhân đã kêu lên một tiếng ngất xỉu ngay tại chỗ. A Châu vội gọi:
– Đệ muội, đệ muội!
Nàng lấy tay day day nơi nhân trung ở môi trên, Mã phu nhân từ từ tỉnh lại, u oán nói:
– Sao ông… sao ông lại dọa tôi? A Châu đáp:
– Ta nào có dọa đệ muội làm gì. Gã Triệu Tiền Tôn kia quả có nói với ta, tiếc thay y chết mất rồi, nếu không ta đã gọi y tới đây đối chất. Y nói năm ngoái ngày Trung Thu giữa tháng tám, Đàm công, Đàm bà cùng hung thủ làm hại Mã huynh đệ, cùng ở nhà “đại ca thủ lĩnh”…
Mã phu nhân hừ một tiếng, hỏi lại:
– Y quả thực nói vậy ư? A Châu đáp:
– Đúng thế. Ta lại hỏi hung thủ đó là kẻ nào, y bảo là tên người đó không tiện nói ra. Ta đi hỏi Đàm công thì y cũng hầm hầm nhìn ta không nói gì cả. Đàm bà bảo quả đúng như thế, chính bà ta nói với Triệu Tiền Tôn. Ta cũng không trách Đàm công đã nổi cáu, chắc là giận vợ mình chuyện gì cũng nói cho Triệu Tiền Tôn nghe.
Mã phu nhân hỏi:
– Hừm, thế thì đã sao? A Châu nói:
– Triệu Tiền Tôn bảo là, tất cả ai ai cũng nghi Kiều Phong và Mộ Dung Phục giết chết Mã huynh đệ, còn hung thủ đích thực thì lại nhởn nhơ ngoài vòng, tiêu dao tự tại, Mã huynh đệ ở dưới suối vàng biết được ắt sẽ muôn đời không giải được nỗi oan.
Mã phu nhân nói:
– Đúng vậy, tiếc thay gã Triệu Tiền Tôn kia lại chết rồi, thế Đàm công, Đàm bà đã nói cho trưởng lão hay chưa?
A Châu đáp:
– Chưa nói mới chết chứ! Đến nước này chỉ còn cách đi hỏi “đại ca thủ lĩnh” thôi.
Mã phu nhân đáp:
– Phải lắm, thế trưởng lão đi hỏi cho ra. A Châu nói:
– Nói ra thì cũng thật tức cười, “đại ca thủ lĩnh” kia là ai, nhà ở đâu, ta nào có biết.
Mã phu nhân nói:
– Ồ, hóa ra ông nói gần nói xa, vòng vo tam quốc chẳng qua chỉ để hỏi tên người “đại ca thủ lĩnh”.
A Châu đáp:
– Nếu bất tiện đệ muội cũng không cần phải cho ta hay làm gì, tự mình tìm cách hỏi cho minh bạch rồi cả bọn sẽ đi tìm chân hung thủ thanh toán món nợ này. Tiêu Phong biết A Châu cố làm ra vẻ bất cần để Mã phu nhân khỏi nghi nhưng trong bụng thật là sốt ruột. Chỉ nghe Mã phu nhân lãnh đạm nói:
– Tên của “đại ca thủ lĩnh” giấu ai thì giấu để Kiều Phong khỏi đi kiếm ông ta báo thù giết cha giết mẹ, còn như Bạch trưởng lão là người phe ta, tiện thiếp dấu làm gì? Người đó chính là…
Nói đến câu “Người đó chính là…” bà ta hạ giọng không nói tiếp nữa. Tiêu Phong hết sức lắng tai dường như chính tiếng tim mình đập cũng còn nghe, nhưng
vẫn không thấy Mã phu nhân nói tên của “đại ca thủ lĩnh” là ai, một lát sau mới nghe bà ta thở dài:
– Trăng trên trời tròn là dường ấy, sáng là dường ấy.
Tiêu Phong biết rõ trên không lúc này mây đen che phủ, làm gì có trăng nhưng cũng ngẩng đầu nhìn lên, nghĩ thầm: “Hôm nay mới mồng hai, dẫu có trăng thì cũng đâu có tròn, bà ta nói thế là ý nghĩa gì?”. Lại nghe A Châu nói:
– Đến ngày rằm thì trăng thể nào chẳng tròn, chẳng sáng vằng vặc, ôi, tiếc thay Mã huynh đệ chẳng bao giờ còn được thấy trăng tròn nữa.
Mã phu nhân hỏi thêm:
– Bánh trung thu ông thích ăn bánh mặn hay bánh ngọt?
Tiêu Phong lại càng kỳ lạ, nghĩ thầm: “Mã phu nhân từ khi chồng chết tâm thần dường như bất thường”. A Châu đáp:
– Bọn chúng ta là dân ăn mày lẽ đâu lại còn đòi bánh mặn bánh ngọt? Cốt sao tìm ra chân hung thủ để báo thù cho Mã huynh đệ, nói gì bánh trung thu mà dẫu có sơn trân hải vị, ăn vào cũng có còn mùi mẽ gì nữa.
Mã phu nhân lặng yên không nói, một lúc lâu sau mới lạnh lùng đáp:
– Bạch trưởng lão hết lòng hết sức cốt sao tìm cho ra hung thủ để báo thù rửa hận cho người anh em Đại Nguyên, khiến cho tiểu nữ cực kỳ cảm kích.
A Châu đáp:
– Đó là bổn phận của chúng ta. Mấy vạn bang chúng Cái Bang có người nào không nghĩ đến mối thù này?
Mã phu nhân nói:
– Vị “đại ca thủ lĩnh” kia địa vị cao sang, thanh thế cực lớn, mở miệng ra là có thể điều động vài vạn người. Ông ta lại hay bênh vực bạn bè, ông đến hỏi hung thủ là ai, chắc không chịu nói ra đâu.
Tiêu Phong mừng rỡ nghĩ thầm: “Nói gì thì nói, chuyến này mình cũng không đến nỗi công toi. Mã phu nhân dù không nói tên tuổi y ra, chỉ dựa vào một câu “địa vị cao sang, thanh thế cực lớn, mở miệng ra là có thể điều động vài vạn người”, ta cũng có thể đoán ra được là ai rồi. Trong võ lâm liệu có mấy ai được như thế?”.
Ông còn đang cố nặn óc xem người đó là ai đã nghe A Châu nói tiếp:
– Trong võ lâm, chỉ một lời có thể điều động được hàng vạn người, trước đây thì chỉ có bang chủ Cái Bang. Ồ, đệ tử Thiếu Lâm cũng khắp thiên hạ, một lời của phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng điều động được hàng vạn người…
Mã phu nhân ngắt lời:
– Thôi ông chớ có suy đoán sằng, để tôi cho thêm một đầu mối, người đó phải đi về phía tây nam mới kiếm thấy.
A Châu trầm ngâm nói:
– Phía tây nam ư? Phía tây nam làm gì có người nào được thế? Xem ra không có ai cả.
Mã phu nhân thò ngón tay, nghe soẹt một tiếng đã đâm thủng giấy dán trên cửa sổ, ngay sát trên đầu Tiêu Phong, lại nghe bà ta nói tiếp:
– Tiểu nữ không biết võ công nhưng Bạch trưởng lão chắc đã biết rồi, trong thiên hạ ai là người công phu này giỏi hơn cả?
A Châu đáp:
– Hừm, điểm huyệt công phu ư? Phái Thiếu Lâm có Kim Cương Chỉ, họ Trịnh ở Thương Châu tỉnh Hà Bắc có Đoạt Phách Chỉ là những ngón lợi hại hơn cả.
Tiêu Phong dường như muốn kêu lên: “Sai bét, sai bét! Công phu điểm huyệt trong thiên hạ thì họ Đoàn Đại Lý là số một, huống chi bà ta đã bảo ở phía tây nam cơ mà”. Quả nhiên nghe Mã phu nhân nói:
– Bạch trưởng lão kiến thức quảng bác, sao chuyện có thế mà không nghĩ ra? Hay là vì đường xa mỏi mệt, đầu óc mụ đi mất rồi đến nỗi môn Nhất Dương Chỉ lừng lẫy như thế mà không nhớ đến?
Trong ngôn ngữ xem ra có phần mỉa mai. A Châu đáp:
– Nhất Dương Chỉ của họ Đoàn thì ta phải biết chứ, có điều họ ở Đại Lý xưng hoàng xưng đế, đã lâu nay không lai vãng với võ lâm Trung Thổ. Nếu bảo vị “đại ca thủ lĩnh” kia có liên hệ với họ Đoàn xem chừng tin tức có gì sai sót.
Mã phu nhân nói:
– Họ Đoàn tuy ở ngôi chúa tể nước Đại Lý nhưng Đoàn gia đâu phải chỉ có một người, kẻ không làm vua vẫn thường lai vãng Trung Nguyên. Vị “đại ca thủ lĩnh” chính là em ruột của đương kim hoàng đế, họ Đoàn tên Chính Thuần, được phong tước Trấn Nam Vương đó.
Tiêu Phong nghe Mã phu nhân nói đến ba chữ “Đoàn Chính Thuần” lập tức toàn thân chấn động, mấy tháng nay muôn dặm ruổi rong, hết lòng hết dạ tìm kiếm bây giờ mới biết được cái tên này. Lại nghe A Châu nói tiếp:
– Vị Đoàn vương gia kia quyền vị cao sang, sao lại tham dự vào chuyện ân oán giang hồ làm gì?
Mã phu nhân đáp:
– Chuyện ân oán giang hồ tầm thường thì không nói gì, Đoàn vương gia dĩ nhiên không dính dáng gì đến, nhưng nếu có liên quan đến chuyện sống chết mất còn, quốc vận thịnh suy của nước Đại Lý, ông nghĩ xem họ có tham gia hay không?
A Châu đáp:
– Thì đương nhiên là họ phải nhúng tay vào. Mã phu nhân nói:
– Thiếp nghe Từ trưởng lão nói rằng: “Đại Tống là bức tường che cho Đại Lý ở phía bắc, Khất Đan một khi diệt xong Đại Tống rồi, thể nào cũng tính tới việc thôn tính Đại Lý. Thành thử Đại Lý và Đại Tống hai bên như răng với môi, Đại Lý không thể nào để cho Đại Tống mất về tay nước Liêu”.
A Châu đáp:
– Quả đúng như thế không sai chút nào. Mã phu nhân nói:
– Từ trưởng lão nói rằng, năm xưa vị vương gia đó đang làm khách ở tổng đà Cái Bang, uống rượu luận kiếm với Uông bang chủ, bỗng nghe tin võ sĩ Khất Đan đang dốc tới đoạt kinh của chùa Thiếu Lâm, Đoàn vương gia nghĩa bất dung từ liền thống lãnh mọi người ra ngoài Nhạn Môn Quan chặn chúng lại, việc tuy nói là vì Đại Tống nhưng thực ra cũng vì Đại Lý.
Nghe nói vị vương gia này khi đó tuổi còn trẻ lắm nhưng võ công cao cường, đối với ai cũng cực kỳ nhân nghĩa. Ông ta ở Đại Lý chỉ dưới một người, ở trên muôn người, coi tiền bạc như rơm rác, chẳng đợi bằng hữu ngỏ lời, vài nghìn vài trăm lượng liền đưa ngay. Trưởng lão thử nghĩ xem người như thế không đứng đầu quần hùng Trung Nguyên thì còn ai? Một mai khi ông ta lên ngôi hoàng đế Đại Lý, thân phận cao quý dường ấy, người khác chỉ toàn xuất thân thảo mãng làm sao ra lệnh cho ông ta được?
A Châu nói:
– Thì ra “đại ca thủ lĩnh” lại là Trấn Nam Vương nước Đại Lý, hóa ra bao nhiêu người chết chỉ để bảo vệ cho ông ta.
Mã phu nhân đáp:
– Bạch trưởng lão, chuyện cơ mật đó ông chớ có nói với ai, Đoàn vương gia và bản bang giao tình chẳng phải tầm thường, nếu như tiết lộ phong thanh thì họa không sao lường được. Tuy họ Đoàn Đại Lý uy chấn một cõi, cực kỳ lợi hại nhưng gã Kiều Phong kia quyết tâm báo thù, ẩn nhẫn chờ tám năm mười năm, Đoàn Chính Thuần cũng không dễ đối phó được đâu.
A Châu đáp:
– Đệ muội nói phải lắm, ta quyết giữ kín như bưng, không tiết lộ với ai. Mã phu nhân nói:
– Bạch trưởng lão, tốt hơn hết ông lập một lời thề để tiện thiếp được yên tâm. A Châu nói:
– Được, việc Đoàn vương gia là “đại ca thủ lĩnh” nếu như Bạch Thế Kính nói ra cho ai nghe thì sẽ phải chịu thảm họa muôn vạn nhát dao, thân bại danh liệt, mọi người cười chê.
Lời thề của nàng nghe ra thật nặng nhưng lại nói trớ ra, mở miệng toàn là đổ lên đầu Bạch Thế Kính, nếu có gì thì muôn vạn nhát dao cũng là Bạch Thế Kính, thân bại danh liệt cũng là Bạch Thế Kính, còn nàng có liên quan gì đâu. Mã phu nhân nghe thề độc như thất rất lấy làm hởi lòng hởi dạ nói:
– Thế thì được lắm.
A Châu trầm ngâm một lát rồi nói:
– Đệ muội, nghe nói Đoàn Chính Thuần hiện nay tuổi bất quá trung niên, nhưng trận chiến Nhạn Môn Quan ba mươi năm trước, chỉ sợ tuổi tác không đúng.
Mã phu nhân nói:
– Bạch trưởng lão, ông gặp qua Đoàn Chính Thuần rồi sao? A Châu nói:
– Ta chưa gặp qua. Mã phu nhân nói:
– Ta từng nghe tiên phu nói: Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần phong lưu háo sắc, tuổi đã cao, lại làm ra vẻ thanh niên đi quyến rũ con gái. Hắn nội công thâm hậu, năm sáu mươi tuổi, trông chỉ như bốn mươi tuổi. Kì thật, Bạch trưởng lão cũng còn kém y vài tuổi ý chứ.
A Châu nói:
– Vậy thì ta phải đi Đại Lý bái kiến Trấn Nam Vương, dò hỏi nghe ngóng xem Tết Trung Thu năm ngoái, ở phủ của ông ta có những khách nào là sẽ tra xét ra hung thủ giết hại Mã huynh đệ. Thế nhưng lúc này thì ta vẫn cho là Kiều Phong. Triệu Tiền Tôn, Đàm công, Đàm bà ba người dở dở ương ương nói ra chắc gì đã tin được. Mã phu nhân đáp:
– Việc tra xét cho ra hung thủ hoàn toàn trông cậy vào Bạch trưởng lão. A Châu đáp:
– Mã huynh đệ với ta có khác gì anh em ruột, ta thể nào cũng hết lòng hết dạ. Mã phu nhân buồn bã nói:
– Bạch trưởng lão tình nghĩa thâm trọng như thế, vong phu ở dưới suối vàng nếu biết được hẳn là cũng cảm kích tấm lòng.
A Châu đáp:
– Đệ muội cố gắng giữ gìn, tại hạ xin cáo từ.
Nói xong bèn chia tay đi ra. A Châu ra đến ngoài cửa đã thấy Tiêu Phong đợi ở xa xa, hai người nhìn nhau không nói một lời thẳng đường mà đi. Vầng trăng non chiếu xiên xiên lên con đường cũ trở về Tín Dương. Hai người sóng vai nhau, đi đến hơn bốn chục dặm Tiêu Phong mới thở ra một hơi nói:
– A Châu, nàng đã lừa Mã phu nhân nói ra “đại ca thủ lĩnh” chính là Đoàn Chính Thuần nước Đại Lý, đa tạ nàng.
A Châu nở một nụ cười, không nói. Tuy mặt nàng bây giờ đang hóa trang thành Bạch Thế Kính nên đầy vết nhăn nhưng từ trong khóe mắt, Tiêu Phong vẫn nhận ra nàng có vẻ lo âu liền hỏi:
– Hôm nay việc lớn đã thành, sao nàng vẫn còn không vui? A Châu đáp:
– Thiếp nghĩ đến họ Đoàn người nhiều thế mạnh, đại ca một thân một mình đến báo thù quả thực muôn phần hung hiểm. Đại ca phải hết sức cẩn thận mới được.
Tiêu Phong đáp:
– Cái đó dĩ nhiên rồi.
Ông chậm rãi đưa tay ra nắm lấy tay nàng nói:
– Nếu ta chết về tay Đoàn công tử thì ai đưa nàng ra ngoài Nhạn Môn Quan chăn cừu thả bò đây?
A Châu đáp:
– Ôi, sao thiếp vẫn sợ lắm, dường như trong chuyện này có điều gì không ổn. Con mụ Mã phu nhân kia… mụ ta… ra vẻ băng thanh ngọc khiết nhưng sao thiếp gặp thấy tự nhiên vừa kinh sợ, vừa chán ghét.
Tiêu Phong cười nói:
– Người đàn bà đó rất là tinh minh tài giỏi, nàng sợ bà ta nhìn ra chân tướng cải trang nên trong lòng khiếp sợ đấy thôi.
A Châu nói:
– Đúng vậy, thiếp một mình ngồi cùng với bà ta, bà ta nhìn thiếp với ánh mắt quái lạ, tựa hồ biết thiếp không phải Bạch trưởng lão, thiếp cứ lo sợ bà ta. Nàng trầm ngâm một lúc rồi nói:
– Đại ca, Đoàn Chính Thuần bạn bè rất nhiều, một câu có thể điều động thiên binh vạn mã, đại ca có thể nghe lời khuyên của Trí Quang đại sư không đi tìm y báo thù? Đại ca nói không muốn để thiếp lẻ loi trên đời không ai chiếu cố, cũng may lần trước đại ca không suy nghĩ, không bị sao cả, không thì bây giờ…
Nói tới đây, mặt nàng đã đỏ đến mang tai. Tiêu Phong tay trái đưa qua ôm lấy nàng, nói:
– Nàng yên tâm, sau này ta xuất thủ, sẽ không có chuyện thu chưởng lực về, làm đối thủ đánh ta đến xương sườn gãy nát, tâm phế vỡ vụn. Hà hà, Tụ Hiền Trang ta còn dám đi, chẳng nhẽ lại sợ thanh thế “đại ca thủ lĩnh” hay sao?
A Châu nhướn lông mày, nhẹ giọng nói:
– Đại ca, Tụ Hiền Trang khác hoàn toàn. Tiêu Phong hỏi:
– Khác nhau thế nào?
A Châu nói:
– Đại ca đã quên sao? Đến Tụ Hiền Trang là đưa A Châu đi trị thương, dù đầm rồng hang hổ đại ca cũng đi. Đại ca, lúc đó trong lòng đại ca có một chút nào thích A Châu không?
Tiêu Phong cười ha hả nói:
– Đã có một chút sao?
A Châu nghiêng đầu nói:
– Thiếp muốn đại ca nói không phải một chút mà là rất nhiều rất nhiều. Tiêu Phong mỉm cười nói:
– Đúng, ta đã có rất nhiều. A Châu nói:
– Bọn họ không biết, đại ca thứ nhất thích uống rượu, thứ hai thích đánh nhau. Tiêu Phong lắc đầu nói:
– Sai rồi, đại ca thứ nhất yêu A Châu, thứ hai mới thích uống rượu, thứ ba thích đánh nhau.
A Châu cười nói:
– Tốt lắm, đa tạ đại ca.
Hai người về đến khách điếm trong thành Tín Dương thì trời đã tối, Tiêu Phong lập tức gọi mười cân rượu, uống một phen cho thỏa dạ, trong bụng tính toán làm cách nào để báo thù, nghĩ đến họ Đoàn Đại Lý, tự nhiên nhớ lại người em mới kết nghĩa kim lan Đoàn Dự không khỏi chột dạ, cầm chén rượu mà ngơ ngẩn xuất thần, vẻ mặt liền biến đổi.
A Châu lại tưởng ông phát giác ra chuyện gì, nhìn quanh bốn phía không thấy gì lạ, hạ giọng hỏi nhỏ:
– Đại ca, có chuyện gì thế? Tiêu Phong giật mình nói:
– Không… không có gì cả.
Ông nâng chén lên uống một hơi cạn sạch nhưng rượu vừa đến cổ họng bỗng dưng sặc một cái ho sù sụ, bao nhiêu rượu phun ra ướt cả bâu áo. Tửu lượng của ông hiếm ai sánh kịp, nội công lại thâm hậu nay sặc rượu phải ọc ra là điều chưa từng có. A Châu kinh hãi thầm nhưng không tiện hỏi.
Nàng có biết đâu Tiêu Phong đang uống rượu bỗng chợt nhớ đến hôm trước nơi thành Vô Tích cùng Đoàn Dự uống thi, đối phương sử dụng khí công thượng thừa Lục Mạch Thần Kiếm, đem bao nhiêu rượu chảy dồn ra đầu ngón tay hết cả. Sau đó tỉ thí khinh công, thần công nội lực như thế, Tiêu Phong biết mình không thể bì kịp. Đoàn Dự rõ ràng không biết võ công, nội công đã ghê gớm đến thế rồi, kẻ đại đối đầu kia là nhân vật đầu não của họ Đoàn Đại Lý, nếu so với Đoàn Dự chắc hẳn phải ghê gớm gấp mười.
Ông có biết đâu Đoàn Dự gặp may mà được thần công, có cái duyên ngẫu nhiên hút nội lực người khác, chỉ riêng nội lực thì chàng ta đã hơn cha không biết bao nhiêu lần, còn công phu Lục Mạch Thần Kiếm, trên đời ngoài Đoàn Dự ra không một người thứ hai nào có thể sử dụng được tất cả. A Châu và Tiêu Phong đều quen biết Đoàn Dự rất thân nhưng họ Đoàn là quốc tính nước Đại Lý, chẳng khác gì họ Triệu bên Đại Tống, họ Lý bên Tây Hạ, họ Gia Luật bên nước Liêu, trong nước có đến hàng nghìn hàng vạn, Đoàn Dự trước nay chưa đề cập mình là vương tử nước Đại Lý, A Châu và Tiêu Phong có ngờ đâu anh chàng lại là dòng dõi hoàng đế, là con Đoàn Chính Thuần.
A Châu tuy không rõ trong bụng Tiêu Phong nghĩ gì nhưng cũng đoán được chắc hẳn ông ta vì việc trả thù mà lo nghĩ liền nói:
– Đại ca, việc báo thù nào phải chỉ một ngày một buổi. Chúng mình tính toán rồi hãy hành động, dẫu cho địch đông mà ta ít, không thắng được bằng sức không lẽ không biết dùng trí hay sao?
Tiêu Phong trong bụng thấy vui, nghĩ đến A Châu lanh lợi khôn ngoan, quả là một tay phù trợ rất đắc lực, lập tức rót ngay một chén khác uống một hơi cạn sạch rồi nói:
– Mối thù cha mẹ, không đội trời chung. Để báo mối thù này việc gì phải để ý tới quy củ đạo nghĩa giang hồ, thủ đoạn ác độc cách mấy cũng chẳng chừa. Đúng thế, không thắng được bằng sức thì chúng mình dùng trí.
A Châu lại tiếp:
– Đại ca, ngoại trừ mối thù thân sinh phụ mẫu, lại còn món nợ máu của cha nuôi mẹ nuôi đại ca là ông bà Kiều lão, món nợ máu của sư phụ đại ca là Huyền Khổ đại sư.
Tiêu Phong vỗ lên bàn một cái, lớn tiếng nói:
– Phải đó, oán thù trùng trùng, nào chỉ có một mối đâu? A Châu nói:
– Khi đại ca học nghệ cùng Huyền Khổ đại sư, tuổi hẳn còn nhỏ nên học chưa hết những nội công tinh diệu của phái Thiếu Lâm, nếu không thì dù Nhất Dương Chỉ của họ Đoàn Đại Lý có lợi hại thế nào chăng nữa cũng chưa chắc đã hơn được Dịch Cân Kinh của Đạt Ma lão tổ. Thiếp từng nghe Mộ Dung lão gia bàn luận võ công thiên hạ, nói là võ công lợi hại nhất của họ Đoàn Đại Lý là Nhất Dương Chỉ và cái gì đó tên là Lục Mạch Thần Kiếm. Có một hòa thượng Thổ Phồn từng dùng nội lực vô hình đến giết thiếp và A Bích, Đoàn công tử ngón tay chỉ ra, dùng kiếm khí vô hình để ngăn chặn, lão hòa thượng nói đó là Lục Mạch Thần Kiếm.
Tiêu Phong nhíu mày đáp:
– Đúng vậy, ta vừa rồi lo âu, không phải vì Nhất Dương Chỉ mà là vì Lục Mạch Thần Kiếm. Nội lực vô hình, như đao như kiếm, làm sao để ngăn cản?
Nói xong nhíu mày trầm ngâm. A Châu nói:
– Hôm đó Mộ Dung lão gia và công tử bàn luận võ công thiên hạ, thiếp ở bên cạnh pha trà, nghe được mấy câu. Mộ Dung lão gia nói: “Bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, môn nào cũng có chỗ tinh diệu, muốn khắc địch chế thắng thì một tuyệt kỹ cũng đủ đâu cần phải tới bảy mươi hai môn”.
Tiêu Phong gật đầu:
– Mộ Dung tiền bối luận thật đúng. A Châu nói tiếp:
– Khi đó Mộ Dung công tử mới nói: “Đúng thế, Vương phu nhân và biểu muội cứ khoe khoang mình biết nhiều võ công thiên hạ, tuy có rộng thật nhưng không tinh
thì có dùng được việc gì đâu?”. Mộ Dung lão gia nói: “Nói đến chữ tinh, đâu phải dễ dàng? Thực ra tuyệt học chân chính của phái Thiếu Lâm thì chỉ có một bộ Dịch Cân Kinh, luyện xong bộ kinh này thì dù võ công tầm thường cách mấy vào tới tay mình cũng biến được cái tồi tệ thành ra thần kỳ”.
Căn cơ vốn sẵn, nội lực lại hùng cường thì dù chiêu số tầm thường cũng có uy lực cực kỳ to lớn, điểm đó Tiêu Phong đã biết từ lâu. Lúc này ông nghe A Châu nhắc lại lời Mộ Dung tiên sinh, không khỏi hứng chí uống luôn hai chén nữa nói:
– Quả là hiểu được bụng ta! Quả là hiểu được bụng ta! Tiếc thay Mộ Dung tiên sinh đã qua đời rồi, nếu không thể nào Tiêu Phong cũng sẽ tới trang để gặp vị kỳ nhân trong thiên hạ này.
A Châu tủm tỉm cười:
– Mộ Dung lão gia khi còn tại thế trước sau không tiếp khách bên ngoài, nhưng đại ca phải là một biệt lệ.
Tiêu Phong ngẩng lên mỉm cười, ông biết câu “đại ca phải là một biệt lệ” có hàm ý là: “Chàng là người yêu của thiếp, Mộ Dung tiên sinh phải coi chàng khác người thường”. A Châu bắt gặp ánh mắt của Tiêu Phong, thẹn thùng cúi đầu, tuy bẽn lẽn nhưng trong lòng ngầm sung sướng. Tiêu Phong lại uống thêm một chén nữa hỏi:
– Khi Mộ Dung lão gia qua đời, tuổi cũng chưa già lắm, phải không? A Châu đáp:
– Khoảng chừng trên dưới năm mươi, chưa thể gọi là già. Tiêu Phong nói:
– Ồ, ông ta nội công thâm hậu, tuổi năm mươi chính là thời kỳ võ công tuyệt đỉnh, không hiểu tại sao đột nhiên qua đời?
A Châu lắc đầu nói:
– Lão gia bị bệnh gì đó mà mất, chúng tôi không ai biết cả. Ông ta chết rất nhanh, buổi sáng sinh bệnh, đến chiều đã thấy công tử khóc rống lên, đi ra thông báo cho mọi người là lão gia đã từ trần.
Tiêu Phong nói:
– Ồ, không biết bị cấp chứng gì, thật tiếc, thật tiếc! Tiếc thay Tiết Thần Y không ở gần bên, nếu không bằng giá nào cũng phải mời ông ta đến cứu mạng cho Mộ Dung tiên sinh.
Ông ta và Mộ Dung công tử tuy chưa từng biết nhau, chỉ nghe người khác nói về ngôn ngữ cử chỉ của hai cha con, không khỏi thầm khâm phục, nay lại có thêm A Châu có uyên nguyên nên càng cảm thấy thân thiết.
A Châu lại tiếp:
– Hôm đó Mộ Dung lão gia bàn về Dịch Cân Kinh với công tử. Ông ta nói: “Bộ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma lão tổ ta chưa từng thấy, thế nhưng cứ như đạo lý võ học mà suy, phái Thiếu Lâm sở dĩ được nổi tiếng cũng chính từ pho Dịch Cân Kinh ấy mà ra. Bảy mươi hai tuyệt kỹ không dám nói là không lợi hại, thế nhưng bảo nhờ vào đó mà lãnh tụ quần luân, đứng đầu võ học thiên hạ thì quả là chưa xứng”. Lão gia lại răn dạy công tử là đừng ỷ vào võ học tổ truyền mà coi thường đệ tử Thiếu Lâm, trong chùa đã có quyển kinh ấy thì ắt có tăng nhân thiên tư dĩnh ngộ hiểu thông được.
Tiêu Phong gật đầu khen phải, nghĩ thầm: “Họ Cô Tô Mộ Dung danh mãn thiên hạ, vậy mà không cuồng vọng tự đại, quả là khó thay”. A Châu nói:
– Lão gia lại bảo rằng, bình sinh ông không võ học nào trong thiên hạ không ngó qua, chỉ chưa được biết Lục Mạch Thần Kiếm Phổ của họ Đoàn Đại Lý và Dịch Cân Kinh của phái Thiếu Lâm, quả là đáng tiếc lúc cuối cuộc đời. Đại ca, nếu như Mộ Dung lão gia đã đặt hai môn võ công này ngang nhau, cứ thế mà suy, muốn đối phó với Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn thì phải có Dịch Cân Kinh của chùa Thiếu Lâm trong tay. Nếu như ta ăn trộm được Dịch Cân Kinh từ Bồ Đề Viện của chùa Thiếu Lâm sau đó bỏ ra vài năm luyện tập thì dẫu có Lục Mạch Thần Kiếm hay Thất Mạch Quỷ Đao gì ta cũng chẳng coi vào đâu.
Nàng nói đến đây, trên mặt hiện ra một nụ cười kỳ bí. Tiêu Phong nhảy dựng lên, cười nói:
– Tiểu quỷ đầu, hóa ra nàng… nàng… A Châu cười nói:
– Đại ca, thiếp ăn trộm được bộ kinh đó đem ra, vốn định trao cho công tử, để cho công tử xem rồi sẽ đốt trước mồ lão gia để cho thỏa tâm nguyện người quá cố. Hiện nay đương nhiên là đưa cho đại ca rồi.
Nói xong từ trong bọc lấy ra một chiếc bao vải dầu, để vào tay Tiêu Phong. Tối hôm đó chính Tiêu Phong thấy nàng hóa trang thành nhà sư Chỉ Thanh, ăn trộm cuốn kinh từ trong tấm gương đồng của Bồ Đề Viện, đâu có ngờ đó chính là Thiếu Lâm bí cập Dịch Cân Kinh. A Châu bị quần hào bắt được ở Tụ Hiền Trang, mọi người nghĩ nàng là phận nữ nhi nên không tra xét trên người cô ta, thành thử các cao tăng chùa Thiếu Lâm như Huyền Tịch, Huyền Nạn dù có nằm mơ cũng không biết được là cuốn kinh bản tự bị mất đang ở trong tay nàng.
Tiêu Phong lắc đầu nói:
– Nàng chịu mạo hiểm, mười phần chết chín mới lấy được cuốn kinh này từ trong chùa Thiếu Lâm ra, bản ý để cho Mộ Dung công tử, ta làm sao lại chiếm lấy làm của mình được?
A Châu đáp:
– Đại ca nói thế là không phải rồi. Tiêu Phong lạ lùng:
– Sao nàng lại bảo là ta không đúng? A Châu đáp:
– Bộ kinh này là do tự ý thiếp đi ăn trộm về, nào có phải phụng mệnh công tử mà làm đâu. Thiếp thích cho ai thì cho người đó. Huống chi sau khi đại ca coi rồi, mình lại đưa cho công tử cũng chưa muộn kia mà. Mối thù cha mẹ, không đội trời chung. Để trả được mối thù này dù phải dùng thủ đoạn ác độc, hèn hạ xấu xa cách mấy cũng chẳng chừa, huống chi chỉ là mượn một bộ kinh coi, có gì đâu mà phải dùng dằng?
Tiêu Phong nghiêm nghị kinh hãi, quay sang nàng vái một vái thật sâu nói:
– Hiền muội trách cứ thật đúng, việc đại sự đâu có nề gì tiểu tiết. A Châu dẩu môi cười:
– Đại ca vốn dĩ là đệ tử Thiếu Lâm, dùng võ công phái Thiếu Lâm để rửa thù cho ân sư Huyền Khổ chính là hợp tình hợp lý, có gì là không phải đâu nào?
Tiêu Phong luôn mồm khen phải, trong lòng hết sức cảm kích, lại thêm vui sướng, liền cầm chiếc bao giấy dầu mở ra xem, chỉ thấy một cuốn sách mỏng giấy đã vàng, ngoài bìa viết những chữ loằng ngoằng kỳ lạ. Ông kêu thầm: “Không xong rồi!”. Mở trang đầu ra xem, thấy trong đó viết đầy những chữ, nhưng những chữ đó xiên xiên xẹo xẹo, chữ thì hình tròn, chữ thì hình móc, đến nửa chữ cũng không đọc được.
A Châu kêu lên “Ôi chao!” một tiếng nói:
– Thì ra viết bằng chữ Phạn, thật không may. Thiếp vốn dĩ định thiêu bản văn này trước mồ lão gia nên không định tâm xem trước, thành ra lấy được kinh văn, tới nay chưa hề mở ra xem. Ôi, thảo nào mấy ông thầy chùa thấy võ công bí cấp bị trộm mà cũng chẳng lấy gì làm tiếc, hóa ra chẳng ông nào đọc được kinh thư…
Nói xong nàng thở dài một tiếng, cực kỳ thất vọng. Tiêu Phong an ủi:
– Việc đời đắc thất, cũng chẳng nên quá để tâm.
Ông bỏ quyển Dịch Cân Kinh trở vào trong bao, gói kỹ lại trả cho A Châu. A Châu nói:
– Đại ca cứ giữ lấy thì yên tâm hơn, sẽ không ai đoạt được nữa.
Tiêu Phong mỉm cười, bỏ chiếc bao vào trong túi. Ông lại rót một bát rượu toan uống, đột nhiên ngoài cửa có tiếng người nói:
– Sai bét, sai bét! Chúng ta nếu thực sự đánh không lại, thì thôi không đánh nữa, sao lại phải làm chuyện xấu xa.
A Châu vừa nghe xong, không khỏi mở cờ trong bụng, biết ngay là “Sai bét, sai bét” Bao Bất Đồng Bao tam ca đến.
Chỉ thấy Bao Bất Đồng mặc trường bào màu nâu, thần thái tiêu sái bước vào, đi sau là hai người đều ăn mặc gọn gàng. Điếm tiểu nhị tiến ra đón nói:
– Ba vị gia đài uống rượu gì? Mời ngồi, mời ngồi. A Châu ngắt lời nói:
– Sai bét, sai bét! Ba vị gia đài muốn uống rượu, còn muốn dùng bữa nữa.
Nàng bắt chước mười phần giống giọng Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng ngẩn ra, lúc này A Châu đang hóa trang, nhất thời không thể nhận ra, nhưng có thể bắt chước giọng nói của mình giống đến vậy, trên đời trừ A Châu ra thì không còn ai khác, lúc này vui vẻ nói:
– A Châu muội tử, mau tới đây bồi ta uống rượu.
A Châu kéo Tiêu Phong cùng qua, ngồi sang bàn của Bao Bất Đồng, nhỏ nhẹ nói:
– Bao tam ca, hai người ở Vô Tích đã gặp qua. Ta từ nay về sau trọn đời đi theo đại ca. Những lời này không cho tam ca nói “Sai bét, sai bét”.
Bao Bất Đồng nghiêng mắt đánh giá Tiêu Phong, lại ngại A Châu, liền nói:
– Cũng không phải sai bét. Hảo muội phu, ngươi họ gì? A Châu lại đáp:
– Y họ Tiêu.
Bao Bất Đồng gật đầu nói:
– Bên cạnh ta là hai vị… A Châu cướp lời nói:
– Diêu trại chủ Tần gia trại, xin chào! Chư đại gia phái Thanh Thành, xin chào! Hai người thấy đại hán trước mặt nhận ra được mình, rất kinh ngạc. Nguyên hai người này một là Vân Châu Tần gia trại Diêu Bá Đương Diêu trại chủ, một là Chư Bảo Côn phái Thanh Thành. Hai người lúc này đứng lên chắp tay hoàn lễ:
– Chào ngài!
Bao Bất Đồng nói:
– Ở đây nhiều người lẫn lộn, không phải chỗ nói chuyện, chúng ta đánh mấy hồ lô rượu, ra ngoài thành tâm tình một phen.
Diêu Bá Đương liền bảo điếm tiểu nhị lấy bốn hồ hô lớn đến, đánh hai mươi cân rượu ngon, rồi lấy ra một thỏi bạc đặt lên bàn, tỏ ra vô cùng hào sảng. A Châu cười nói:
– Rượu thế vẫn chưa đủ!
Diêu Bá Đương không nói lời nào, mua thêm bốn hồ lô rượu nữa, cùng Chư Bảo Côn chia nhau vác trên lưng, đi theo sau ba người Bao Bất Đồng, Tiêu Phong, A Châu. Năm người ra tới ngoài thành, thấy một cây đại thụ lớn bốn phía đều không có người, đi đến ngồi dưới gốc cây. A Châu nhận một cái hồ lô, mở nút ra, đưa cho Tiêu Phong, Tiêu Phong ngửa đầu uống một hớp lớn, nói:
– Rượu ngon!
Diêu Bá Đương khen:
– Vị Tiêu gia này lửu lượng rất khá. Bao Bất Đồng nói:
– Ta vốn là đến phủ Hà Nam tiếp ứng cho công tử gia, ở thành Tín Dương gặp Diêu trại chủ cùng Chư huynh đệ, hai vị không đánh không quen biết, kết thành bạn tốt, đó cũng là tốt.
Rồi quay đầu sang hai người Diêu Chư nói:
– Diêu trại chủ, Chư huynh đệ, hai người qua gốc cây bên kia uống rượu đi, ta muốn cùng Tiêu đại gia thương lượng chút chuyện quan trọng.
Diêu Chư hai người đồng thanh nói:
Rồi đứng dậy, đem theo một cái hồ lô, đi ra rất xa, đến khi không còn nghe thấy Bao Bất Đồng nói chuyện mới dừng lại, ngồi xuống. Bao Bất Đồng đợi hai người Diêu Chư đi xa mới nói:
– Tiêu đại gia, A Châu muội tử nói cả đời này đi theo ngươi, ta thấy ngươi không từ chối. Một cô nương tốt như vậy, ta muốn còn không được, ta đoán ngươi nhất định không thể từ chối được. Nói ngắn lại, chúng ta là người một nhà, cái gì cũng không giấu ngươi. Tiêu huynh đệ, ngươi đã nghe danh của Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu chưa?
Tiêu Phong gật gật đầu. Bao Bất Đồng nói tiếp:
– Đinh Xuân Thu là tổ sư sáng lập phái Tinh Tú, sở trường là sử độc, lại có môn Hóa Công Đại Pháp, có thể làm tiêu tan nội lực của người khác, khiến cho người trong võ lâm căm giận vô cùng, vừa nghe tên là sợ mất vía. Lão quái này không chuyện ác nào không làm, lại có dây mơ rễ má với nhà Mộ Dung Cô Tô ta. Nghe nói hắn tuổi trẻ là một tên phản đồ của sư môn, lừa tình nhân của sư phụ, hai người cao chạy xa bay, trốn tới Tô Châu ẩn cư. Hai đứa nam nữ vô sỉ này khi trốn chẳng những dẫn theo con gái của sư phụ, còn trộm rất nhiều võ công bí kíp, võ công của các gia, các phái trong thiên hạ đều được ghi ở đó. Bọn họ ở Tô Châu xây một tòa để chứa sách, tên là Lang Hoàn Ngọc Động. Nữ nhi kia sau này lớn lên, gả cho một thanh niên họ Vương, rồi cũng sinh ra một đứa con gái…
A Châu không nhịn được nói tiếp lời:
– Chính là Vương Ngữ Yên Vương cô nương! Bao Bất Đồng vỗ tay nói:
– A Châu muội tử, muội cực kì thông minh, Bao ta không bằng ba phần của muội. A Châu nói:
– Không chừng con gái tam ca thông minh hơn ta, chờ nàng lớn lên tam ca sẽ biết.
Bao Bất Đồng nói:
– Sai bét, sai bét! Ta thà để nó ngốc nghếch một chút, chứ nếu nó lại thông minh hơn, ta làm sao trông coi nó được? Ta nói không cho phép nó đi ra ngoài chơi, nó bỗng nhiên ra vẻ Phong tứ đệ nói: “Bao tam ca, ta cũng đi đánh nhau”. Ta nói: “Phong tứ đệ, đánh nhau thì phải cẩn thận!”, nó cười ha hả nói: “Cha, yên tâm được rồi, không cần phải coi chừng đâu”, vậy phải làm sao bây giờ?
A Châu cười nói:
– Vương cô nương xem những võ công bí kíp của Đinh Xuân Thu ăn cắp, cái gì Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao, chữ Thanh chín cách đánh, chữ Thành mười tám cách phá, đều nói được hết.
Bao Bất Đồng nói:
– Không sai, đúng là như vậy. Chàng thanh niên họ Vương kia có một tỉ tỉ gả cho Mộ Dung Bác lão gia của chúng ta. Quan hệ thông gia này quả thật làm cho nhà Mộ Dung Cô Tô xấu mặt. Bất quá là do người đời trước kết, chúng ta là hậu bối cũng không còn cách nào khác. Mộ Dung lão gia vì nghiên cứu võ công, trước kia cũng thường tới Lang Hoàn Ngọc Động mượn sách xem. Từ sau khi Mộ Dung lão gia qua đời, Vương thái thái cùng thái thái nhà ta bất hòa, hai nhà cũng chẳng lui tới. Nhưng bây giờ lại gặp một vấn đề không nhỏ, Tư Mã Lâm chưởng môn phái Thanh Thành bị người ta bắt, Tần gia trại lại bị cướp hai vạn lượng bạc…
A Châu nói:
– Tam ca, phái Thanh Thành và Tần gia trại đều không quy phục nhà Mộ Dung Cô Tô ta sao?
Bao Bất Đồng nói:
– Nếu bọn chúng không quy phục, ta để ý đến chúng làm cái rắm!
Y đang gặp vấn đề khó giải, trong lòng không vui, không khỏi nói thô tục, nói tiếp:
– Sáng mai, đồ tử đồ tôn Đinh Xuân Thu hẹn bọn họ đến chân núi Đồng Bách để tiếp nhận.
A Châu hỏi:
– Đinh Xuân Thu cũng đến sao? Bao Bất Đồng nói:
– Đinh Xuân Thu không đến, bọn họ bắt Tư Mã Lâm đi, bắt phái Thanh Thành đem hai mươi vạn lượng bạc đi chuộc người, lại muốn Tần gia trại quy phục phái Tinh Tú.
A Châu nói:
– Những người này thật sự lợi hại sao? Bao Bất Đồng lắc đầu nói:
– Sai bét, sai bét! Thực sự lợi hại thì chưa chắc, nhưng bọn này sở trường là dùng độc, thật khó để đấu lại. Công tử gia không biết ở đâu, Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Phong tứ đệ cũng không liên lạc được, Bao Bất Đồng biến thành kẻ đơn độc, thật là buồn bã!
A Châu tiếp lời nói:
– Sai bét, sai bét! Trong lúc nguy cấp vẫn còn tiểu A Châu ở bên. Bao Bất Đồng nói:
– A Châu muội tử, đa tạ ngươi. Tam ca đem tính mạng này đi, cũng là báo đáp công tử gia, ngươi không cần phải đi.
A Châu nói:
– Đánh nhau thắng bại là chuyện thường, đối phương đang mạnh, chúng ta tạm thời thoái lui từng bước, có gì không thể?
Tiêu Phong nhịn không được ngắt lời nói:
– Ngày mai chúng ta cùng đi, bảo bọn chúng không được khinh người quá đáng. Bao Bất Đồng vội nói:
– Tiêu huynh đệ, đối phương vô cùng ác độc, giống như là rắn rết, chúng ta nhường một bước thôi.
Dứt lời đứng dậy cáo từ, cùng Diêu Chư hai người ra đi. Tiêu Phong cùng A Châu trở lại khách điếm, thu thập hành lí, buổi chiều liền giục ngựa chạy đến Đồng Bách. Sáng sớm hôm sau, đi tới chân núi phía Đông Bắc Đồng Bách, thấy bốn bề vắng lặng, liền ngồi chờ dưới một gốc cây. A Châu nói:
– Đại ca, thù lớn của đại ca chưa trả, không nên để trúng chất độc của kẻ thù, chúng ta cứ giữ mình thôi.
Tiêu Phong nói:
– Ta muốn cùng nàng đi ra biên ngoại, từ nay về sau không trở về Trung Nguyên, còn nợ Mộ Dung công tử một chuyện, hôm nay nếu như có thể làm chuyện nho nhỏ để báo đáp, hai ta từ nay về sau ở đại thảo nguyên săn thú nuôi dê, không phải lo nghĩ gì, thế mới thật là an nhàn. Ôi, chỉ không biết người đã cứu ta ở Tụ Hiền Trang là ai, y ban ơn mà không mong báo đáp, ta cả đời này chỉ sợ không báo đáp được.
Trong lúc nói chuyện, Bao Bất Đồng và Diêu Bá Đương, Chư Bảo Côn cùng Tần gia trại, phái Thanh Thành kéo đến, đến sau Tiêu Phong và A Châu chừng nửa canh giờ. Chợt nghe thấy tiếng sáo vang chói tai, hơn mười xe ngựa từ xa chạy tới, đến gần thì dừng lại, mười mấy người trong xe nhảy ra, người cao người thấp, đều mặc áo ngắn bằng vải đay, lại dắt theo một người, hai tay bị trói, mặt ủ rũ, chính là Tư Mã Lâm, chưởng môn phái Thanh Thành.
Người phái Thanh Thành kêu to:
– Tư Mã chưởng môn, cứu viện đã tới rồi!
Chư Bảo Côn đi ra đầu tiên, theo sau là một gã đồng môn. Đối phương phái Tinh Tú cũng có một người đi ra, dáng người khôi ngô, đầu tóc vàng hoe, hắn giậm chân nhảy đến, tay trái nhẹ nhàng vung ra, vỗ vào má phải Chư Bảo Côn. Chư Bảo Côn lớn tiếng hét to, lấy trong tay áo ra một cái búa, một cái dùi, oang một tiếng, cây búa đập mạnh vào chiếc dùi, một mũi cương châm xé gió hướng gã tóc vàng bắn tới, gã tóc vàng nghiêng mình né tránh, nhưng cương châm tới quá nhanh, phập một tiếng cắm vào bả vai hắn. Gã tóc vàng vung chân đá ra, Chư Bảo Côn lộn một vòng ngã nhào. Tiêu Phong nhìn Chư Bảo Côn thì thấy nửa khuôn mặt y đã thành đen như mực, sưng vù lên, không ngừng kêu la. Một đệ tử phái Thanh Thành nhằm gã tóc vàng phóng đến, gã tóc vàng đánh y một chùy, y ngã về phía trước, lăn vài vòng dưới đất, kêu vài tiếng rồi bất động, hình như đã chết.
Chúng đệ tử phái Tinh Tú lớn tiếng vỗ tay nói:
– Ngũ sư ca uy chấn Trung Nguyên, đánh cho Mộ Dung Cô Tô không ngóc đầu lên được!
– Ngũ sư ca thật oai phong, hảo sát khí!
Chỉ thấy trong phái Tinh Tú lại đi ra một người, dáng người gầy yếu, mũi lân mồm rộng, chỉ nghe hắn nói:
– Đốt lửa thiêu người! Phái Thanh Thành không lấy bạc chuộc người, mau đưa chưởng môn của bọn chúng nướng thành lợn quay!
Vài tên môn hạ phái Tinh Tú cùng đáp:
– Dạ, nhị sư ca!
Liền chạy tới xe ngựa lấy ra củi than đắp thành một đống trên mặt đất, đốt lửa lên, chỉ một lúc ngọn lửa đã bùng lên. Hai gã đệ tử nhấc Tư Mã Lâm lên, hướng đống lửa đẩy tới. Bao Bất Đồng vung cương đao, xông lên cứu người. Gã mũi lân chưởng trái đẩy ra, một luồng kình phong thổi bay ngọn lửa, bay tới Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng nghiêng người né tránh, gã kia chưởng phải vỗ ra, ngọn lửa ở giữa vọt ra, bay tới Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng bị cháy quần áo, ngay cả tóc cũng bị cháy, A Châu xông lên phía trước giúp y dập lửa, gã mũi lân kia phóng tả chưởng, đốt tóc A Châu. A Châu kêu to:
Tiêu Phong hữu chưởng đánh ra, kình lực bay tới, ngọn lửa bay ngược lại chỗ tên mũi lân. Gã mũi lân song chưởng đánh ra, ngọn lửa nhất thời đứng yên giữa khoảng không. Đệ tử phái Tinh Tú kêu lên:
– Nhị sư ca, hảo công lực!
– Nhị sư ca Ma Vân Tử uy chấn thiên hạ!
– Uy chấn thiên hạ!
Ngọn lửa ở giữa không trung đột nhiên tắt ngấm. Tiêu Phong phóng lại một chưởng, trong đống lửa bay ra một ngọn lửa, hướng gã mũi lân bay tới. Hắn bước sang né tránh, Tiêu Phong đánh ra một chưởng Phách Không Chưởng, trúng giữa ngực hắn, hắn lảo đảo, phun ra một ngụm máu, uể oải dưới đất.
Gã Ngũ sư huynh xông ra trước người hắn bảo vệ, song chưởng giơ lên, Tiêu Phong không đợi hắn phát chưởng, đánh ra một chưởng mãnh lực. Cách cách vài tiếng, gã tóc vàng đã gãy hai cánh tay, thân mình bay về phía sau, miệng thổ ra máu, ngồi dưới đất, không đứng dậy được. Những đệ tử còn lại phái Tinh Tú có người trốn ra sau xe ngựa, có người anh dũng nghênh địch. Tiêu Phong thi triển Phách Không Chưởng, tay chưa chạm tới đối phương, chỉ nghe tiếng gió vù vù.
– Ối chao, ba má ơi!
– Tinh Tú lão tiên tạm không giá lâm, cho tên tiểu tử này trổ tài oai phong!
– Nhanh lên, nhanh lên! Con bà nó, mau mau đi gọi người!
Trong khoảnh khắc đã chạy hết, gã mũi lân bị trọng thương quá nặng, ngồi dưới đất, không có cách nào đào tẩu. Một đệ tử béo ục ịch đột nhiên chạy ra nói:
– Nhị sư ca, hôm nay chúng ta xuất quân bất lợi, kẻ tức thời mới là trang tuấn kiệt.
Gã mũi lân nói:
– Đúng! Hôm nay vận khí không tốt, liền nhường một bước, thả Tư Mã Lâm ra!
Gã béo ục ịch cầm cương đao đi qua cắt đứt dây trói Tư Mã Lâm. Tư Mã Lâm giận không kìm được, vung chưởng đánh hắn, gã béo quay chưởng lại đỡ, bùng một tiếng, song chưởng giao nhau. Tư Mã Lâm chạy lại chỗ phái Thanh Thành, chỉ cảm thấy bàn tay đau đớn vô cùng, giơ tay nhìn lên, thấy lòng bàn tay tối đen, đã bị trúng độc chưởng.
Tiêu Phong quát:
– Ngươi còn muốn hại người?
Phát chưởng đánh vào giữa đống lửa, một ngọn lửa bay về phía gã béo ục ịch. Gã tránh được, khom người nói:
– Vị đại ca này tôn tính đại danh là gì? Hôm nay phái Tinh Tú chúng ta tạm thời nhận thua, ngày sau sư phụ ta Tinh Tú lão tiên sẽ đến lĩnh giáo các hạ.
Tiêu Phong điềm nhiên nói:
– Cái đó không cần, hôm nay còn chuyện gì nữa mà chưa kết thúc? Gã béo nói:
– Đúng vậy, đúng vậy!
Gã vẫy tay ra hiệu, vài tên đệ tử phái Tinh Tú đánh xe ngựa đựng ngân lượng, cung kính đặt trước mặt Tiêu Phong. Gã ục ịch nói:
– Vị đại gia này, đây là hai vạn lượng bạc chúng ta lấy từ Tần gia trại, nay vật về chủ cũ. Non xanh còn đó, nước biếc chảy dài, đại gia võ công cao cường, bội phục, bội phục, nhưng chỉ sợ còn chưa bằng sư phụ chúng ta. Hẹn ngày tái kiến!
Gã chắp tay, nâng nhị sư ca dậy, một tên đệ tử khác nâng ngũ sư ca, kéo lên xe ngựa, chậm rãi bỏ đi. Mọi người Tần gia trại và phái Thanh Thành đều lớn tiếng hoan hô, hướng Tiêu Phong nói lời cảm tạ. Tiêu Phong không nói danh tính của mình, thuận miệng lấy lệ, nghĩ rằng cuối cùng cũng giúp Mộ Dung công tử một lần, về sau cùng A Châu lên bắc, không trở về nữa, lòng cũng yên tâm thoải mái. A Châu kéo Bao Bất Đồng, nói nhỏ:
– Vương cô nương cùng A Bích muội tử đang ở đâu? Bao Bất Đồng nói:
– Các nàng đã sớm về Tô Châu. Trượng phu của muội là Kiều Phong Cái Bang sao? A Châu gật đầu nói:
– Tam ca, nhà Mộ Dung đối đãi ta cùng A Bích tốt lắm, từ nhỏ đem chúng ta nuôi lớn, coi như chính con đẻ của mình, các ngươi đối đãi với ta cũng tốt, coi ta như là huynh đệ của mình. Ta vốn phải báo đáp, nhưng cả đời này ta đã theo Tiêu đại ca, y chết cũng thế, sống cũng thế, lòng ta quyết không có người thứ hai. Bao Bất Đồng mỉm cười nói:
– Kiều bang chủ võ công cao cường, thật tốt quá! Ngươi về sau ngay cả công tử gia cũng không nghĩ đến, ngay cả ta cũng không nghĩ đến.
A Châu giơ tay lên cổ làm tư thế chặt đầu, nói chắc như đinh đóng cột:
– Không nghĩ đến!
Bao Bất Đồng giơ ngón tay cái lên tỏ vẻ “tốt lắm”. A Châu nói:
– Tam ca, xin ngươi nói lại với A Bích một tiếng, bảo nàng nhất định phải bảo trọng, và cũng đi tìm một nam nhân thực sự đối tốt với nàng.
Bao Bất Đồng ha hả cười, vung tay lên, xoay người nghênh ngang mà đi. Diêu Bá Đương, Chư Bảo Côn cũng xuất lĩnh bộ chúng đi theo.